Xác định khung khái niệm nghiên cứu tác động của thảm họa đại dịch Covid-19 đến "shocks" và ứng phó xã hội

Sociologist

Nghiên cứu

Trần Xuân Bình

13 Tháng Tám, 2021

Xác định khung khái niệm nghiên cứu tác động của thảm họa đại dịch Covid-19 đến "shocks" và ứng phó xã hội

TÓM TẮT:

Từ cách tiếp cận xã hội học, bằng các nguồn tài liệu liên ngành bài viết mong muốn trao đổi từ nhận thức luận để làm rõ các khái niệm, xây dựng khung logic trong nghiên cứu về mối quan hệ tác động của thảm họa đại dịch Covid-19 gây nên shocks và ứng phó xã hội. Từ đó đề xuất sự cần thiết phải có những nghiên cứu – can thiệp và huy động mọi nguồn lực xã hội để ứng phó, né tránh, ngăn chặn, đẩy lùi những tác hại của đại dịch này. Đặc biệt đối với các đối tượng dễ bị tổn thương.

Từ khóa: Covid-19, Shock, Thảm họa, Ứng phó xã hội

1. MỞ ĐẦU

Corona Virus – Covid-19 một thảm họa đại dịch toàn cầu. Có thể khẳng định rằng, chúng ta không cần phải luận bàn chi tiết, bởi nó thực sự đã là một thảm họa cho toàn nhân loại ngay từ những ngày đầu của năm 2020 mà ai cũng có thể tự cảm nhận được trong từng giây phút qua mỗi ngày cho đến hiện tại, ngay cả những em bé bắt đầu biết nói!

Thông thường trong khung logic của nghiên cứu liên quan đến tác nhân gây nên những cú shocks (sốc) xã hội và diễn biến của nó, cấu trúc các lớp khái niệm được diễn đạt theo một trật tự:

(1) tác nhân gây sốc – (2) các cú sốc – (3) ứng phó – (4) phục hồi.

Diễn đạt gọn hơn: (1) tác nhân gây sốc – (2) + (3) + (4) khả năng chống chịu (năng lực chống chịu tác nhân). Trao đổi này mong đợi làm rõ các khái niệm, mối quan hệ giữa các lớp khái niệm để thao tác khi xây dựng khung khái niệm nghiên cứu về sốc, ứng phó và phục hồi.

2. NỘI DUNG

2.1. Khái niệm Thảm họa (Disaster):

Theo CRED, là "một tình huống hoặc sự cố vượt quá khả năng xử lý tại chỗ của địa phương, đòi hỏi phải có sự trợ giúp từ bên ngoài, của quốc gia hay quốc tế; nó thường xảy ra đột ngột, không lường trước, tạo ra sự nguy hại, tàn phá to lớn và sự đau khổ, tổn thất lớn về con người” [10]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Thảm họa là một sự cố xảy ra làm rối loạn các điều kiện sống bình thường và gây ra sự đau khổ, tổn thất vượt quá mức khả năng tự khắc phục của cộng đồng bị ảnh hưởng bởi thảm họa” [15].

Ảnh 1: Covid-19 là một thảm họa đại dịch toàn cầu

Các thay đổi này có thể xảy ra một cách bất thường (nhanh, đột xuất) hoặc có xu thế từ từ, âm ĩ và liên tục. Thảm họa có liên quan đến mỗi một sự kiện xã hội diễn biến phức tạp theo thời gian, nó gây ra mọi sự mất mát về vật chất và tinh thần cho mọi chủ thể xã hội, đồng thời nó kết nối với các rủi ro, đe dọa, rình rập nguy cơ có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, mà mọi thiết chế xã hội khó có thể kiểm soát được. Dựa vào các khái niệm đã nêu, chúng ta nhận thấy rằng khi thảm họa đại dịch do Covid-19 gây ra thì mức độ tác động của nó lên toàn xã hội là rất nghiêm trọng và gây nên những cú sốc trên các phạm vi, mọi lĩnh vực, mọi đối tượng và ở các mức độ không như nhau. Việc gây ra những cú sốc đa dạng và những diễn biến ứng phó xã hội là tất yếu, đồng thời theo đó ngoài sự huy động nội lực của mỗi chủ thể cần phải có sự trợ giúp bên ngoài và quốc tế.

Theo CRED thảm họa được phân thành các nhóm gồm:

  • (1) Thảm họa do thiên nhiên/thiên tai (Natural disasters);
  • (2) Thảm họa do công nghệ (Technological disasters);
  • (3) Thảm họa do yếu tố xã hội (Social disasters);
  • (4) Thảm họa do tình trạng khủng hoảng, khẩn cấp (Complex and failed states, Complex Emergency).

Cách phân loại thảm họa theo các tổ chức, các ngành khoa học có thể khác nhau, thông thường và phổ biến là theo nguồn gốc, nguyên nhân gây ra thảm họa. Trường hợp thảm họa Covid-19 do đâu? Đây vẫn là một câu hỏi lớn mà cả nhân loại đang dày công.

Tốc độ, phạm vi, tính chất, đặc điểm, tác hại do Covid-19 gây nên cho mọi xã hội đã tự nó tạo ra một thảm họa và được xem như một bối cảnh, hay môi trường sinh thái, hay một quyễn bao trùm, chi phối và quyết định mọi tiến trình của xã hội diễn ra trong nó. Thảm họa đại dịch Covid-19 đã gây nên “những cú sốc” cho mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội và toàn cầu ở những tần suất và mức độ khác nhau. Thực sự may mắn cho nhân loại đã được thụ hưởng một nền tảng kỹ thuật số thời 4.0, nhờ đó chúng ta dễ dàng kết nối, cập nhật, cảm nhận, chia sẻ sự xâm nhập, lan tỏa, gây sốc, những ứng phó xã hội và hậu quả bởi đại dịch này.

2.2. Khái niệm Sốc (Shock):

Đã có nhiều học giả đưa ra định nghĩa về sốc. Theo EP-CBMS Network Coordinating Team (2011) [7]: Sốc là một sự kiện có thể gây ra sự suy giảm về sức khỏe, nó có thể ảnh hưởng đến cá nhân (bệnh tật, tử vong), một cộng đồng, một khu vực, hoặc thậm chí là một quốc gia (thiên tai, khủng hoảng kinh tế vĩ mô). Khi một rủi ro cụ thể hóa, nó có thể trở thành một cú sốc, do vậy một cú sốc liên quan đến một rủi ro gây ra một "ý nghĩa" tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe (ví dụ, mất thu nhập lớn, hoặc bệnh tật nặng liên quan đến chi phí) [11]). Những cú sốc là những sự kiện có thể làm giảm sức khỏe cộng đồng hoặc sức khỏe cá nhân, như bệnh tật, thất nghiệp và có thể tự gây ra nghèo nàn về vật chất [17].

Theo Sinha và Lipton (1999), thuật ngữ “shocks” đã có một ý nghĩa rất cụ thể bao gồm: (1) sự bất ngờ (nghĩa là biến động gây thiệt hại rủi ro đã xảy ra, mặc dù nó có xác suất thấp); (2) độ mạnh, (3) thiệt hại cao do tập trung vào những người có tính dễ bị tổn thương cao và khả năng phục hồi thấp; (4) nguồn ngoại sinh; và (5) căng thẳng về thể chất hoặc tâm lý cho một hoặc nhiều cá nhân do sự căng thẳng đó [5].

Ảnh 2: Việc cách ly tại nhà khiến người dân bức bối

Theo EP-CBMS Network Coordinating Team (2011) [7], sốc thường được phân loại dựa trên phạm vi hoặc nguồn gốc gây sốc:

Thứ nhất, phân loại sốc theo phạm vi: có thể phân loại shocks thành 2 loại: (1) những cú sốc đặc tính (Idiosyncratic shock); (2) và những có sốc hiệp biến (Covariant shock) [18]. Sốc đặc tính ảnh hưởng đến cá nhân, gia đình và cộng đồng, chúng bao gồm các cú sốc liên quan đến: bệnh tật, chấn thương, chết chóc, mất việc, mất mùa, sự sa sút về mọi mặt… Những cú sốc hiệp biến ảnh hưởng đa chiều hơn đến các nhóm hộ gia đình (theo nghề nghiệp), cộng đồng rộng lớn (sinh thái – nhân văn), khu vực, vùng miền, toàn bộ quốc gia dân tộc và thậm chí là quốc tế, chúng thường được hiểu như các cú sốc về: xung đột vũ trang, khủng hoảng tài chính, thay đổi ở giá cả thị trường, bất ổn xã hội,… kìm hãm, hủy hoại mọi thành quả của phát triển.

Thứ hai, phân loại sốc theo nguồn gốc: có thể phân loại sốc thành: (1) sốc tự nhiên (lũ lụt, hạn hán, bão, động đất, phun núi lửa, sóng thần,…); (2) sốc kinh tế (đóng của kinh doanh, sự tăng giá, mất việc, cắt giảm lương, mất mát kiều hối,…); (3) sốc xã hội (chiến tranh, tội phạm, bạo lực); và (4) sốc sức khỏe (dịch bệnh)... Trong trường hợp này, sốc sức khỏe – dịch bệnh Covid-19 vừa là tác nhân gây nên mọi loại sốc như nêu trên, vừa là gốc rể tạo ra bối cảnh thảm họa.

Khi lựa chọn, triển khai một nghiên cứu và can thiệp về sốc do thảm họa dịch bệnh Covid-19, việc định dạng, lựa chọn vấn đề (sự kiện khoa học) – khái niệm đề tài và thao tác hóa chúng có ý nghĩa rất cơ bản. Định vị và mối quan hệ giữa các lớp khái niệm, các hệ chỉ báo (biến số) và tương quan giữa chúng là câu chuyện không dễ dàng, yêu cầu đòi hỏi tính học thuật cao.

2.3. Khái niệm Ứng phó xã hội (Social Responce)

Trong các nghiên cứu liên ngành khái niêm ứng phó thường được hiểu là tập hợp và mối quan hệ giữa các khái niệm nội hàm gồm: đối phó, thích ứng và chuyển đổi.

2.3.1. Đối phó (deal with):

Được định nghĩa là một chiến lược ngắn hạn được thông qua trong hệ thống giá trị hiện hành áp dụng để ngăn chặn tác động tiêu cực lên chủ thể [20]. Đối phó là một mảng của các chiến lược ngắn hạn được sử dụng để đáp ứng với cuộc khủng hoảng [2]. Đối phó là việc quản lý các nguồn lực trong các tình huống khó khăn. Nó bao gồm việc tìm kiếm cách để giải quyết vấn đề, để xử lý căng thẳng hoặc để phát triển các cơ chế phòng vệ. Hoạt động đối phó được cụ thể bằng các chiến lược đối phó cụ thể. Chiến lược đối phó hoặc cơ chế đối phó là những hành động khắc phục hậu quả (remedial actions) được thực hiện bởi những người mà sự tồn tại và sinh kế của họ đang bị tổn hại hoặc đe dọa [19]. Chiến lược đối phó là những chiến lược thiết kế để làm giảm tác động của các rủi ro một khi nó đã xảy ra [12].

Ảnh 3: Đội ngũ y tế Việt Nam đã căng mình chống dịch trong suốt 2 năm qua

Tổ chức EP-CBMS Network Coordinating Team (2011), đã xây dựng khung phân tích về đối phó với các nguồn gây shocks như một điển hình cho các nghiên cứu. Theo khung phân tích này, nguồn/yếu tố gây sốc xã hội đến từ nhiều nguồn khác nhau, yếu tố gây sốc có thể là yếu tố tự nhiên hoặc các yếu tố liên quan đến khía cạnh xã hội và các chính sách của chính phủ. Đối diện với các cú sốc hộ sẽ tìm cách ứng phó đối với các cú sốc đó bằng các hoạt động cụ thể để cải thiện đời sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng, có thể các giải pháp gia tăng thu nhập hoặc là các hoạt động làm giảm chi tiêu, tiết kiệm.

Việc thực hiện các giải pháp ứng phó sẽ có tác động tiêu cực nhất định đến cuộc sống xã hội, tình trạng tái nghèo tăng lên, các nguồn lực bị hạn chế và làm cho cuộc sống của xã hội khó khăn hơn. Cách tiếp cận này cho thấy nhiều hạn chế, tiếp cận một chiều đối với các cú sốc sẽ không phản ảnh hết năng lực phục hồi, chưa phản ánh cơ hội, mặt tích cực xã hội nãy sinh từ các cú sốc.

2.3.2. Thích ứng (adaptation):

Hiện nay, thuật ngữ thích ứng cũng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế, xã hội. Thuật ngữ thích ứng được sử dụng cho tất cả các lĩnh vực nhưng cơ bản nó bắt đầu từ khoa học tự nhiên [21]. Thích ứng tự nhiên đề cập đến sự phát triển gen hoặc đặc tính của các vi sinh vật hoặc hệ thống đối phó với thay đổi môi trường để sống còn với tái sản xuất [21]. Thích ứng có nghĩa là điều chỉnh trong các hệ thống kinh tế - xã hội – môi trường để đối phó lại với thực tế đang thay đổi, những tác động và ảnh hưởng của chúng. Có nhiều biện pháp thích ứng, theo IPCC [14] đã đề cập và miêu tả 228 biện pháp thích ứng. Cách phân loại phổ biến là chia các biện pháp thích ứng thành các nhóm [13]:

Thứ nhất, Chấp nhận tổn thất: Các biện pháp thích ứng khác có thể được so sánh với cách phản ứng cơ bản là “không làm gì cả”, ngoại trừ chịu đựng hay chấp nhận những tổn thất. Trên lý thuyết, chấp nhận tổn thất xảy ra khi bên chịu tác động không có khả năng chống chọi lại bằng bất kỳ cách nào.

Thứ hai, Chia sẻ tổn thất: Loại này liên quan đến việc chia sẻ những tổn thất giữa một cộng đồng dân cư lớn kể cả trong một cộng đồng truyền thống và trong xã hội công nghệ cao, phức tạp. Trong xã hội truyền thống, nhiều cơ chế tồn tại để chia sẻ những tổn thất giữa cộng đồng mở rộng, như là giữa các hộ gia đình, họ hàng, làng mạc hay là các cộng đồng nhỏ tương tự. Các cộng đồng lớn phát triển cao chia sẻ những tổn thất thông qua cứu trợ cộng đồng, phục hồi và tái thiết bằng các quỹ công cộng. Chia sẻ tổn thất cũng có thể được thực hiện thông qua bảo hiểm và hệ thống an sinh xã hội.

Ảnh 4: Cộng đồng chia sẻ trách nhiệm chống dịch với lực lược chức năng

Thứ ba, Làm thay đổi nguy cơ: Ở một mức độ nào đó người ta có thể kiểm soát được những mối nguy hiểm đến từ thảm họa. Những biện pháp thích hợp thông qua việc xây dựng một hệ thống công cụ chức năng và chủ thể thực hiện công tác kiểm soát xã hội.

Thứ tư, Ngăn ngừa các tác động: Là một hệ thống các biện pháp thường dùng để thích ứng từng bước và ngăn chặn các tác động của biến đổi và bất ổn của tác nhân, thảm họa.

Thứ năm, Thay đổi cách sử dụng: Khi những rủi ro xuất hiện làm cho không thể tiếp tục duy trì mọi hoạt động sống hoặc đối mặt với những vấn đề rất mạo hiểm, người ta có thể thay đổi cách sử dụng mọi nguồn lực.

Thứ sáu, Thay đổi/chuyển địa điểm: Một sự đối phó mạnh mẽ hơn là thay đổi/chuyển địa điểm của mọi hoạt động sống, trong đó các hoạt động kinh tế là điển hình. Các chủ thể luôn có sự tính toán thiệt hơn và đưa ra quyết định theo sự lựa chọn hớp lý.

2.3.3. Chuyển đổi (transformation):

Về mặt khái niệm, sự thích ứng thể hiện sự biến đổi, do đó được phân biệt bởi thích ứng “gia tăng”, trong đó các thực hành hiện có được điều chỉnh để làm cho chúng phù hợp hơn với các điều kiện thay đổi [9].

Thay vào đó, nó ngụ ý một điều gì đó có ý nghĩa hơn có lẽ là sự thay đổi định hướng, có lẽ là nhưng sự thay đổi quan trọng theo nghĩa này rõ ràng vẫn còn bỏ ngỏ để giải thích. Có lẽ được áp dụng rộng rãi nhất và dễ dàng nhất để liên kết với thực tiễn thích ứng cụ thể, là quan điểm của sự chuyển đổi như một cơ chế quản lý không liên quan đến việc trải qua giới hạn thích ứng. Về bản chất, chuyển đổi là về sự thay đổi, nhưng nó không đồng nghĩa với thay đổi. Đối với hầu hết các tác giả, nó ngụ ý sự thay đổi nhiều hơn thường lệ: một sự thay đổi cơ bản của nhà nước [8].

2.4. Khái niệm năng lực chống chịu xã hội (Social Resilience)

Khái niệm “năng lực chống chịu” được phát triển dựa trên ý tưởng là con người có thể vượt qua “sốc và stress” và phục hồi trở lại [3]. Năng lực chống chịu phản ánh khả năng chống chịu của mọi sự vật hiện tượng bởi các tác nhân gây ra. Khả năng chống chịu phản ánh mức độ mà một hệ thống phức tạp có thể thích nghi, có khả năng tự tổ chức và mức độ mà hệ thống có thể xây dựng năng lực cho việc học và thích nghi [4].

Như vậy, khả năng chống chịu là khái niệm giúp hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa cú sốc, ứng phó sốc và phục hồi như là kết quả phát triển [6]. Liên quan đến vấn đề xã hội, khả năng chống chịu xã hội được hiểu là khả năng của các nhóm xã hội và cộng đồng để phục hồi hoặc phản ứng tích cực với các cuộc khủng hoảng [16].

Các nhà nghiên cứu khả năng thích ứng cho rằng khả năng phục hồi xã hội nâng cao sự thích nghi và năng lực tiếp thu của các cá nhân, nhóm, cộng đồng và tổ chức, từ đó họ tổ chức, thiết chế hóa theo cách duy trì chức năng hệ thống khi đối mặt với sự thay đổi hoặc phản ứng với sự xáo trộn để kiểm soát rủi ro, đảm bảo tính trật tự và ổn định xã hội.

Ảnh 5: Việt Nam chung tay thích ứng và khắc phục hậu quả của đại dịch Covid-19

Trong bối cảnh hiện nay, cần thiết có những nghiên cứu đánh giá vừa cụ thể tại mỗi địa phương, vừa có tính toàn diện các cấp vùng miền quốc gia ở nước ta và thậm chí là toàn cầu về khả năng phục hồi xã hội để xác định lỗ hổng kiến thức và thúc đẩy hơn nữa nghiên cứu về đo lường khả năng phục hồi xã hội trong bối cảnh thảm họa.

2.5. Đánh giá tác động xã hội bởi thảm họa

2.5.1. Đánh giá tác động xã hội (Social Impact Assessement):

Là một chuỗi các hoạt động nghiên cứu, đánh giá những tác động bởi các nhân tố gây ảnh hưởng lên sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội... là xác định, phân tích và dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt, lâu dài và tiềm tàng mà việc thực hiện hoạt động đó có thể gây ra cho mọi nguồn lực, tài nguyên và chất lượng môi trường sống của con người tại nơi có liên quan đến tác động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng, tránh, giảm thiểu, khắc phục các tác động tiêu cực [1]. Thảm họa Covid-19 tác động như thế nào lên mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của mỗi các nhân, nhóm, cộng đồng và toàn xã hội từ vi mô đến vĩ mô. Là những vấn đề, câu hỏi lớn, cần phải được giải đáp trên cơ sở khoa học từ những nghiên cứu thực nghiệm xã hội học.

2.5.2. Phương pháp đánh giá tác động xã hội bởi thảm họa (Methods of Social Impact Assessement):

Thông thường tiến trình thực hiện nghiên cứu đánh giá tác động xã hội bởi thảm họa được thực hiện theo các bước sau:

Giai đoạn 1: Lập kế hoạch đánh giá, gồm các bước: 1) Xác định vấn đề; 2) Lựa chọn phương pháp/công cụ đánh giá; 3) Lựa chọn chỉ số/chỉ thị đánh giá; 4) Lập kế hoạch chi tiết.

Giai đoạn 2: Thực hiện hoạt động đánh giá, gồm các bước: 5) Thu thập thông tin, dữ liệu về tác động; 6) Thực hiện khảo sát thực tế/nghiên cứu điểm; 7) Phân tích/đánh giá tác động; 8) Đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện chính sách; 9) Bàn luận về kết quả đánh giá tác động; 10) Tham vấn các bên liên quan về kết quả đánh giá.

Giai đoạn 3: Sử dụng kết quả đánh giá, gồm các bước: 11) Công bố và thông tin kết quả đánh giá; và 12) Sử dụng kết quả đánh giá tác động [1].

Trong bối cảnh của thảm họa Covid-19 hiện nay chúng ta có thể hình thành những nghiên cứu về đánh giá tác động xã hội theo logic của các lớp khái niệm như trình bày ở trên. Khi triển khai nghiên cứu đánh giá tác động xã hội có thể vận dụng cách tiếp cận và các phương pháp này một cách linh hoạt.

3. KẾT LUẬN

Cần thiết phải có những định hướng nghiên cứu và nhóm nghiên cứu liên ngành. Từ vị thế của một cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học thuộc trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, không có ước ao gì to lớn, chúng ta cần thiết phải gấp rút kiến nghị đề xuất để hình thành các đề tài nghiên cứu, dự án can thiệp.

Theo đó hình thành hướng nghiên cứu và nhóm nghiên cứu cho chủ đề này. Những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu – can thiệp là:

1). Nhận diện những phản ứng - ứng phó đa chiều như thế nào của người dân, cộng đồng và toàn xã hội ở Thừa Thiên Huế và các tỉnh miền Trung trước đại dịch Covid-19 ?

2). Nhận diện hệ thống chính trị các cấp ở nước ta đã vào cuộc ứng phó với thảm họa, những cú sốc xã hội và chiến lược ngăn chặn, đẩy lùi, phục hồi như thế nào?

3). Nhận điện sự vận hành của hệ thống chính sách và an sinh xã hội các cấp đã vào cuộc ứng phó với thảm họa, những cú sốc xã hội và chiến lược ngăn chặn, đẩy lùi, phục hồi như thế nào?

4). Đánh giá tác động xã hội bởi thảm họa Covid-19 lên mọi thành phần xã hội (đặc biệt là những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội), cơ cấu ngành nghề sinh kế, mọi lĩnh vực... và khả năng ứng phó, phục hồi như thế nào?

5). Chuyển dịch giá trị, thang giá trị và định hướng giá trị xã hội trong bối cảnh ứng phó với thảm họa dịch bệnh Covid-19 như thế nào?

6). Nghiên cứu quản lý rủi ro và khả năng phục hồi do tác động của thảm họa Covid-19 gây ra như thế nào?

7). Vai trò của các cuộc nghiên cứu thực nghiệm xã hội học như thế nào để tạo những tìm các biến can thiệp (đầu ra) cho các chương trình can thiệp, hành động thực tiễn trên cơ sở khoa học và phù hợp mọi điều kiện hoàn cảnh cụ thể ?

9). Vai trò của công tác xã hội như thế nào để trợ giúp xã hội (các chủ thể, thân chủ) ứng phó với các cú sốc và hỗ trợ phục hồi xã hội?

---

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Trần Xuân Bình, 2010, Giáo trình “Đánh giá tác động xã hội”, Trường Đại học Khoa học Huế.

[2]. Adams, Jerry M, and Suzanne Cory. 1998. "The Bcl-2 protein family: arbiters of cell survival". Science no. 281 (5381):1322-1326.

[3]. Adger, W Neil, et al. 2005. "Social-ecological resilience to coastal disasters". Science no. 309 (5737):1036-1039.

[4]. Allenby, Brad, and Joseph Roitz. 2003. "Implementing the knowledge economy: the theory and practice of telework". Batten no. 19:73-84.

[5]. Anderson, Mary B. 2000. "The impacts of natural disasters on the poor: a background note". World Bank, Washington, DC Processed.

[6]. Béné, Christophe, et al. 2014. "Resilience, poverty and development". Journal of International Development no. 26 (5):598-623.

[7]. EP-CBMS Network Coordinating Team (2011). "Definition and types of shocks and shocks and shocks and coping strategies to be monitored. Paper read at Technical Workshop on “Monitoring Household Coping Strategies during Complex Crises", at Sommerset Millennium Hotel.

[8]. Feola, Giuseppe. 2015. "Societal transformation in response to global environmental change: a review of emerging concepts" Ambio no. 44 (5):376-390.

[9]. Field, Christopher B. 2014. "Climate change 2014–Impacts, adaptation, and vulnerability: Regional aspects". Cambridge University Press.

[10]. Guha-Sapir, Debarati, et al. 2013. "The frequency and impact of natural disasters". The economic impacts of natural disasters:7.

[11]. Heitzmann, Karin, et al. 2002. "Guidelines for assessing the sources of risk and vulnerability. In World Bank Social Protection Discussion Paper". Washington, USA: World Bank.

[12]. Holzmann, Robert, and Steen Jørgensen. 2001. "Social Risk Management: A new conceptual framework for Social Protection, and beyond". International Tax and Public Finance no. 8 (4):529-556.

[13]. Hovelsrud, Grete K, et al. 2010. "Adaptation in fisheries and municipalities: three communities in northern Norway." In Community adaptation and vulnerability in arctic regions, 23-62. Springer.

[14]. IPCC, Climate Change. 2007. "The physical science basis. Contribution of working group I to the fourth assessment report of the Intergovernmental Panel on Climate Change". Cambridge University Press, Cambridge, United Kingdom and New York, NY, USA no. 996:2007.

[15]. Lim, Aswin. 2018. "Lesson learned from retaining wall failures: a geotechnical disaster". Paper read at MATEC Web of Conferences.

[16]. Maguire, Brigit, and Patrick Hagan. 2007. "Disasters and communities: understanding social resilience". Australian Journal of Emergency Management, The no. 22 (2):16.

[17]. Marqués, Ricardo, et al. 2003. "Comparative analysis of edge-and broadside-coupled split ring resonators for metamaterial design-theory and experiments". Vol. 51, IEEE Transactions on Antennas and Propagation: IEEE.

[18]. Narayan-Parker, Deepa, and Raj Patel. 2000. "Voices of the poor: Can anyone hear us?" Vol. 1: World Bank Publications.

[19]. Ognibene, Todd C, and Nancy L Collins. 1998. "Adult attachment styles, perceived social support and coping strategies". Journal of Social and Personal Relationships no. 15 (3):323-345.

[20]. Sauerborn, Rainer, et al. 1996. "Household strategies to cope with the economic costs of illness". Social science & medicine no. 43 (3):291-301.

[21]. Smit, Barry, and Johanna Wandel. 2006. "Adaptation, adaptive capacity, and vulnerability". Global environmental change no. 16 (3):282-292.

---

Nguồn ảnh

Ảnh bìa: https://static.dw.com/image/55666616_303.jpg

Ảnh 1: https://img.etimg.com/thumb/msid-79955710,width-1200,height-900,imgsize-221421,overlay-economictimes/photo.jpg

Ảnh 2: http://c.files.bbci.co.uk/F475/production/_112218526_gettyimages-1209423875.jpg
Ảnh 3: https://lh3.googleusercontent.com/proxy/KnpFNtvyu_AP-y8BMbsP4sJUkXBmDJffukedIZ48G_7sli9YYaZPx5BK0dIgT18epFYKnyuWujidCNOZV_rP2oo3FjFuDd5vkg5fpF65qCIcWa032nU

Ảnh 4: https://cdnimg.vietnamplus.vn/uploaded/bokttj/2020_12_16/vietnamphotosontimesquares_02.jpg

Ảnh 5: https://media.vov.vn/sites/default/files/styles/large/public/2021-05/181007773_10158385589403789_202584239125591316_n.jpg

---

Chú thích:

Ảnh trong bài viết chỉ mang tính minh họa

---

Media Team, Sociology Hue - HUSC

Editor: Tuấn Long | tuanlong.dhkh@gmail.com