Tổng quan về chính sách phát triển đối với dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Khoa Xã hội học

Nghiên cứu

Tác giả: Đoàn Lê Minh Châu

04 Tháng Năm, 2020

Tổng quan về chính sách phát triển đối với dân tộc thiểu số ở Việt Nam

TÓM TẮT

Chính sách phát triển đối với dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã được nhà nước quan tâm xuyên suốt trong suốt quá trình lịch sử. Tuy nhiên đến nay, thực tế cho thấy khoảng cách phát triển của dân tộc thiểu số đối với dân tộc Kinh ngày càng lớn. Vì vậy, bài viết này sẽ bàn luận về chính sách phát triển hiện này của chính phủ đối với cộng đồng dân tộc thiểu số thông qua việc đưa ra cái nhìn tổng quan về chu trình lịch sử và thực tiễn áp dụng chính sách hiện nay. Bài viết đưa ra luận điểm chính sách phát triển của chính phủ trong suốt lịch sử đã dựa trên góc nhìn và diễn ngôn của nhà nước và nhóm chuyên gia, do đó đã tạo ra nhiều vấn đề làm gia tăng khoảng cách trong phát triển giữa dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh. Cho đến nay, mặc dù đã có sự dịch chuyển trong tư duy chính sách, nhưng những vấn đề như tính minh bạch, và sự tham gia của cộng đồng trong chính sách phát triển vẫn chưa thực sự được chú trọng. Kết quả là dân tộc thiểu số vẫn đang là nhóm đối tượng ngoài lề trong chu trình xác định phát triển của chính mình.

Keywords: Dân tộc thiểu số, chính sách phát triển, tính minh bạch, sự tham gia

1. MỞ ĐẦU

Sự phát triển của cả quốc gia phải là sự phát triển toàn diện và thống nhất ở mọi mặt, cho tất cả các nhóm người trong biên giới lãnh thổ. Với lịch sử phức tạp cả từ chính trị, xã hội đến biên giới lãnh thổ, Việt Nam luôn giữ trong mình sự khác biệt xã hội và đa dạng. Tuy nhiên, sự khác biệt này không chỉ dừng lại ở các tập quán văn hóa truyền thống mà còn tạo ra khoảng cách khó thể xoá nhoà về phúc lợi xã hội, giáo dục, kinh tế, v.v ... giữa dân tộc đa số và thiểu số.

Ở Việt Nam, dân tộc thiểu số được xem như là nhóm người yếu thế , là đối tượng trọng tâm của các dự án phát triển với mục tiêu tiến tới “miền núi tiến kịp miền xuôi”. Với mục đích tăng mức thu nhập, giảm nghèo cho cộng đồng dân tộc thiểu số, trong nhiều năm qua, chính phủ Việt Nam đã thực hiện các chương trình giảm nghèo quốc gia và thay đổi chính sách liên quan đến đầu tư, kêu gọi các dự án phát triển ở các vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, cho đến nay, tỷ lệ nghèo đã giảm, nhưng trớ trêu thay, hơn 70% người dân tộc thiểu số vẫn kiếm được ít hơn 2 đô la một ngày [26]. Hơn nữa, một chỉ số phát triển khác cũng đang chứng minh khoảng cách rộng giữa nhóm dân tộc thiểu số và người Kinh; người dân tộc thiểu số đang phải đối diện với nguy cơ tái nghèo [26].

Rất nhiều nghiên cứu đã đưa ra lý do để lý giải về tình trạng đói nghèo dai dẳng của người dân tộc thiểu số thường nhắc đến tính không chủ động, tâm lý ỷ lại và trông chờ vào trợ cấp của nhà nước. Các lý do về văn hoá, phong tục tập quán lạc hậu, trình độ dân trí thấp cũng thường được nhắc đến trong các báo cáo về tình trạng xoá đói giảm nghèo, cũng như thực thi dự án phát triển [7;8;15]

Bài viết này sẽ đưa ra góc nhìn tổng quan về quá trình phát triển các khung chính sách của nhà nước Việt Nam về phát triển của người dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, sẽ bàn luận về quá trình thực tiễn hoá chính sách phát triển hiện nay, nhất là về vấn đề thực hiện dự án phát triển. Bài viết nhấn mạnh sự cần thiết trong minh bạch dự án và củng cổ khung giám sát, thúc đẩy sự tham gia chính sách của người dân tộc thiểu số, từ đó có thể thực sự nâng cao năng lực và trao quyền cho người dân.

2. NỘI DUNG

2.1 Định nghĩa dân tộc thiểu số và ảnh hưởng đến xây dựng chính sách

Ngôn ngữ chính là biểu hiện của diễn ngôn, nó luôn thay đổi đi kèm là sự biến đổi của kiến thức chung, ngôn ngữ vượt xa những mối quan hệ quyền lực tiềm ẩn trong xã hội. Tại sao xã hội sử dụng thuật ngữ này thay vì các thuật ngữ khác luôn đi kèm với một tập hợp các lựa chọn hợp lý, dựa trên ý thức hệ của nhóm quyền lực trong xã hội. Trong trường hợp này, thuật ngữ "dân tộc thiểu số" hoàn toàn phù hợp với khái niệm kiến tạo diễn ngôn.

Dân tộc là gì? Dân tộc là một thuật ngữ về ý thức của tập thể, là một nhóm người được tập hợp dựa trên sự chia sẻ về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, chủng tộc hoặc tôn giáo. Còn có thể hiểu là nhóm người thường sống với nhau theo cùng một không gian địa lý. Tuy nhiên, quốc gia thường không chỉ hình thành bởi một dân tộc. Đây là điểm khởi đầu cho sự hình thành của thuật ngữ "dân tộc bản địa" và "dân tộc thiểu số".

Không có định nghĩa chung ở quốc tế thống nhất về những gì tạo nên người bản địa hoặc dân tộc thiểu số. Thuật ngữ dân tộc thiểu số thường đề cập đến các nhóm dân tộc hoặc chủng tộc ở một quốc gia nhất định mà họ ở vị trí không thống trị về cả quyền lực và số lượng. Một số dân tộc thiểu số được tạo thành từ hậu duệ của những người di cư hoặc của các nhóm được đưa đến một quốc gia bằng vũ lực. Trong các trường hợp khác, người dân bản địa đã trở thành thiểu số do kết quả của việc định cư và thực dân hóa các lãnh thổ bản địa của họ bởi các dân tộc khác [23] .

Ảnh 1. Dân tộc là nhóm người thường sống với nhau theo cùng một không gian địa lý

"Dân tộc bản địa" biểu thị việc tập hợp các cá nhân có quyền tự quản hoặc là người thân của những người cư ngụ sớm nhất của một khu vực. Do đó, nếu sử dụng thuật ngữ người bản địa, họ sẽ được quyền tuyên bố tự trị, thực hành tập quán, văn hóa, v.v. Chính phủ Việt Nam không sử dụng thuật ngữ này để tránh xung đột và đấu tranh với triết lý quản lý xã hội của nhà nước. Luật pháp Việt Nam không sử dụng cụm từ "dân tộc bản địa" cho bất kỳ tập hợp cá nhân nào ngay cả khi họ có một lịch sử sống lâu dài và có cấu trúc xã hội tương tự như định nghĩa.

Một khía cạnh khác cần xem xét là cách hiểu về "thiểu số". Chúng ta sử dụng thiểu số trong sự so sánh về số lượng, đối nghịch với đa số, để mô tả phương sai về số lượng dân số. Louis Wirth, một nhà xã hội học, trong cuốn sách của ông, "Vấn đề về thiểu số", định nghĩa "một nhóm thiểu số là một nhóm người, vì đặc điểm thể chất hoặc văn hóa của họ, bị tách ra khỏi những người khác trong xã hội nơi họ sống vì sự khác biệt và đối xử bất bình đẳng, và do đó họ coi mình là đối tượng của sự phân biệt đối xử tập thể" [26]. Lấy từ khái niệm Wirth, khái niệm thiểu số có nghĩa là ý tưởng về sự khác biệt trong các hành động quản lý do phân biệt đối xử, phân biệt chủng tộc hoặc định kiến. Tuy nhiên, trong tuyên bố của nhà nước Việt Nam, thuật ngữ dân tộc thiểu số dựa trên số liệu thống kê dân số của mỗi dân tộc. Nếu dân tộc chiếm tới 50% dân số quốc gia thì dân tộc sẽ xác định là đa số và ngược lại.

Ảnh 2. Không có định nghĩa chung ở quốc tế thống nhất về những gì tạo nên người bản địa hoặc dân tộc thiểu số

Dân tộc thiểu số được quy định tại khoản 2, Điều 4 Nghị định số 05/2011 / ND-CP về dân tộc thiểu số như sau: "Dân tộc thiểu số" là những người có dân số ít hơn đa số trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

"Theo quy định của pháp luật, người dân tộc thiểu số ở Việt Nam thường có bốn đặc điểm sau:" (i) một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ quốc gia; (ii) cư trú truyền thống lâu dài, hoặc mối quan hệ với đất đai, và hệ thống thể chế xã hội truyền thống lâu dài; (iii) một hệ thống sản xuất được xác định chặt chẽ với nhóm; và (iv) tự nhận dạng 'là một nhóm văn hóa riêng biệt được chấp nhận bởi các nhóm dân tộc lân cận " [10]

Ngoài ra, Việt Nam chưa phê chuẩn Công ước ILO 169 và không công nhận người dân tộc thiểu số trong nước là người bản địa. Do đó, các định nghĩa ảnh hưởng trực tiếp đến việc định hướng và thực hiện tất cả các chính sách và chiến lược quốc gia trong phát triển cho dân tộc thiểu số.

Chính từ diễn ngôn về định nghĩa dân tộc này, mà nhà nước Việt Nam với tư cách là nhà nước trung tâm đã kiến tạo một mối quan hệ cao thấp giữa "dân tộc thiểu số" với dân tộc Kinh [13]. Do đó, các chính sách bàn đầu của nhà nước thể hiện ý chí "áp đặt" giải pháp dựa trên tư tưởng chủ đạo. Chính từ cơ chế chính sách khép kín, không có sự đối thoại và tham gia giữa người dân tộc thiểu số - nhóm người bị đánh giá thấp, với chính quyền địa phương đã dẫn đến tình trạng các kết quả dự án, chính sách phát triển không thể giải quyết được vấn đề của cộng đồng [3;16].

2.2 Chính sách phát triển dân tộc thiểu số

2.2.1 Chính sách quốc gia về dân tộc thiểu số trước 1986

Xuyên suốt lịch sử, từ các nhóm tổ tiên của người nhập cư Kinh từ miền nam Trung Quốc đã hội nhập với người dân bản địa (chủ yếu là các nhóm dân tộc thiểu số ngày nay) ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Dần dần, nhóm người Kinh trở thành nhóm văn hóa thống trị. Nhà nước Việt Nam trong lịch sử đã duy trì một chế độ cai trị dân tộc thiểu số tương đối mềm dẻo để thu thập các cống phẩm từ các nhóm này và để giữ biên giới khi các nhóm dân tộc thiểu số cư trú xung quanh biên giới Việt Nam với Xiêm [18]. Cho đến Cách mạng Pháp, khi người Pháp phái các nhà truyền giáo đến các dân tộc thiểu số Tây Nguyên để tuyên truyền, một số lượng lớn người dân ở đây tin tưởng và xây dựng chế độ tự trị địa phương trong thời gian này. Ngoài ra, đất bị tịch thu, lao động bắt buộc hay còn gọi là đi phu ('corvee'), đánh thuế nặng nề đối với cả người Kinh và dân tộc thiểu số trong thời kỳ này, cũng dẫn đến một số cuộc nổi loạn với chính phủ cầm quyền [18;19].

Sau năm 1954, Việt Nam Cộng hòa bắt đầu áp dụng các chính sách khiến người dân Kinh định cư ở Tây Nguyên. Trong khi đó, chính quyền Bắc Việt đã xây dựng hai khu tự trị ở khu vực miền núi phía bắc, như một phần thưởng cho người dân tộc Tày và Nùng, những nhóm người đã giúp chính phủ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên, trong thời kỳ chống Mỹ, các khu tự trị này đã bị bãi bỏ để tránh quyền sử dụng đất theo phong tục truyền thống [12].

Ảnh 3. Người dân tộc thiểu số không có nhiều quyền hành, được khuyến khích thay đổi và tiếp nhận văn hoá người Kinh

Sau cuộc hội ngộ của miền Bắc và miền Nam Việt Nam năm 1975, mục tiêu cấp bách của chính quyền hiện tại do Đảng Cộng sản lãnh đạo là cố gắng thay đổi cấu trúc Chính phủ miền Nam, xóa bỏ dấu ấn của chính phủ trước. Trong thời kỳ này ở nhiều vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, được đặt dưới sự kiểm soát của các hợp tác xã nông nghiệp và các trang trại nhà nước để đẩy mạnh sản xuất chè, cà phê, cao su và các loại cây trồng khác. Trong thời gian, Việt Nam có 420 doanh nghiệp nhà nước được thành lập. Chính sách tái định cư sau chiến tranh cũng đã dẫn đến một dòng di cư của người nông dân nghèo, không có đất, phần lớn là người Kinh đến Tây Nguyên để bắt đầu ngành cà phê. Theo ước tính chính thức, khoảng 250.000 người định cư đã được chuyển đến khu kinh tế mới mỗi năm trong những năm 1980. Do đó, dân tộc Kinh trở thành người văn minh các khu vực ít dân cư, tái định cư ở đó, xây dựng cuộc sống của họ, tạo ra những ngôi làng mới và dần dần thống trị người bản địa [11;16]

Có thể thấy rằng, chính sách dân tộc thời kì đầu trước năm 1986 thể hiện tư tưởng của nhà nước trung tâm, khi người dân được xem như đối tượng chấp hành và thụ hưởng chính sách. Người dân tộc thiểu số không có nhiều quyền hành trong thời gian này, đồng thời họ cũng được khuyến khích thay đổi và tiếp nhận văn hoá cũng như lối sống của người Kinh. Các chính sách di cư đưa người Kinh lên với vùng cao cũng thể hiện sự tin tưởng của nhà nước đối với nhóm người này.

2.2.2 Chính sách quốc gia về dân tộc thiểu số sau năm 1986

Dưới hiệu lực của Luật Đất đai năm 1993, người dân tộc thiểu số đã trải qua những khó khăn trong việc duy trì quyền sử dụng đất tập thể và quyền sở hữu đất đai. Các nhóm dân tộc thiểu số không phải lúc nào cũng được hưởng lợi từ quyền sử dụng đất riêng lẻ, từ các dịch vụ khuyến nông tập trung vào phát triển cây trồng thâm canh hoặc chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Các chính sách chính của nhà nước cũng tập trung việc thúc đẩy thay đổi cơ cấu sử dụng đất và thay đổi tập quán di chuyển của các dân tộc thiểu số thành lối sống định cư.

Kết quả là 95% đất canh tác và đất lâu năm đã được giao và chứng nhận, dưới 10% rừng và các khu vực đất khác có giấy chứng nhận sử dụng đất [14]. Quyền sử dụng đất và rừng truyền thống thường không được hệ thống pháp luật chính thức công nhận [14], đồng thời việc di cư sang các khu kinh tế mới ở Tây Nguyên đã góp phần gây ra căng thẳng giữa người nhập cư và người bản địa.

Dữ liệu trong các khảo sát hộ gia đình cho thấy đất nông nghiệp trung bình trên mỗi hộ gia đình (m2) là 7268,0 và tổng diện tích đất thiếu cho nông nghiệp là 68,5% [20]. Thiếu đất là một vấn đề phổ biến với các dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở khu vực Đông Bắc, nơi điều kiện đầy thách thức, địa hình núi non khắc nghiệt. Việc thiếu đất canh tác đã đẩy người dân vào những khó khăn liên quan đến sinh kế, kiếm thu nhập, đẩy người dân tộc thiểu số vào di cư, cả di cư tự nhiên và di cư bắt buộc.

Trong bức tranh toàn cảnh diện tích đất đai của đồng bào dân tộc thiểu số đã bị thu hẹp, từ những người sở hữu rừng, giờ họ phải làm thuê cho người Kinh trong lĩnh vực cà phê, chè, và cao su. Dân tộc thiểu số cũng phải học kinh tế buôn bán của người Kinh. Số lượng người định cư mới hiện vượt quá toàn bộ dân số bản địa của khu vực. Những thay đổi đáng kể về quyền sử dụng đất và mật độ dân số đã góp phần vào sự bất ổn ở Tây Nguyên vào năm 2001 [1;2;6].

Ảnh 4. Người dân tộc thiểu số không có quyền lựa chọn giống cây trồng và mô hình quản lý rừng cộng đồng

Chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hay các chính sách thuộc chương trình 135 giai đoạn đầu cũng có nhiều bất cập. Người dân tộc thiểu số không có quyền lựa chọn giống cây trồng, cũng như chọn lựa mô hình quản lý rừng cộng đồng, cũng dẫn đến những hệ luỵ trong việc xói mòn tính bản địa, áp đặt kinh tế thị trường, và sói mòn căn tính cộng đồng (community identity).

Văn kiện dự án CT135 III viết “đầu những năm 90 thế kỷ trước, đồng bào các dân tộc vùng miền núi nước ta còn canh tác các loại giống cây trồng bản địa năng xuất thấp, thu nhập không cao, vì thế tình trạng đói nghèo khá phổ biến. Nhờ chính sách mở cửa, giao lưu với bên ngoài, đến nay nhiều giống cây trồng mới như: ngô, lúa, đậu tương, cây ăn quả, mía,... các giống vật nuôi như: Bò lai Shin, gà Tam hoàng, vịt Khakicampell, ngan Pháp năng xuất cao, chất lượng tốt đã được du nhập vào vùng dân tộc thiểu số, mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện cuộc sống, giảm đói nghèo cho đồng bào”. Trong khi đó, trên thực tế có nhiều bài học đắt giá cho thấy ngô lai, cây ăn trái, bò lai sin, v.v.., không phù hợp với các điều kiện tự nhiên bằng giống bản địa nên đã thất bại. Đó là chưa kể các giống lúa, ngô mới, với những điều kiện mới về phân bón… có thể gây ra những tác động đến hệ sinh thái và độ màu mỡ của đất.

Trích “Diễn ngôn, chính sách và sự biến đổi văn hóa - sinh kế tộc người”[12,tr71]

Hơn nữa, trong bối cảnh kinh tế thị trường, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn. Bất chấp mọi nỗ lực giúp người dân tộc thiểu số thoát nghèo, có quan điểm cho rằng trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, người Kinh (Việt) được hưởng lợi nhiều hơn [17;22;27]. Mặt khác, sự tự do của thị trường đẩy các dân tộc thiểu số vào các cuộc cạnh tranh không bình đẳng. Nền kinh tế thay đổi từ sản xuất tập trung sang biến đất đai và tài nguyên thiên nhiên thành sở hữu chung. Tuy nhiên, sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các dân tộc thiểu số gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với người Kinh khi so sánh về vốn, kỹ năng nghề nghiệp [27].

Người Kinh được chính phủ tin tưởng là những vị cứu tinh, mang lại sự hiện đại hóa, văn minh cho các dân tộc thiểu số lạc hậu. Do đó, các chính sách đẩy mạnh kinh tế hoá, thị trường hoá ở các vùng dân tộc thiểu số đã gây ra những tác động khác nhau đối với sự thay đổi cấu trúc xã hội, làm xói mòn các giá trị, khủng hoảng danh tính và sự biến mất của các ngôn ngữ thiểu số. Tất cả những yếu tố đó được đề cập đến như là “Kinh hoá", quá trình thực dân nội bộ của người Kinh đối với các dân tộc thiểu số. Nghiên cứu về sự phát triển bền vững của các nền văn hóa dân tộc ở Đông Bắc nói rằng đối với ảnh hưởng của văn hóa Kinh, tất cả những người trẻ ở làng dân tộc thiểu số Sán Dìu không còn nói tiếng mẹ đẻ và làng không có các yếu tố văn hóa truyền thống như nhà cửa, quần áo [14, tr7 – 233]. Quá trình đó đã tạo ra một sắc thái dễ bị tổn thương mới - lỗ hổng được tạo ra từ sự hào phóng của dân tộc thống trị.

Trước tình hình đó, năm 1993, một ủy ban quốc gia, được gọi là Ủy ban cho người dân tộc thiểu số ở vùng núi được thành lập và chịu trách nhiệm xác định, điều phối, thực hiện và giám sát các dự án liên quan đến phát triển dân tộc thiểu số. Theo Cohen năm 2001, mặc dù có trách nhiệm thúc đẩy sự phát triển ở một dân tộc thiểu số, Ủy ban cho các dân tộc thiểu số đã tham nhũng khủng khiếp và phân biệt đối xử đối với người dân tộc thiểu số là một dân tộc ngoài lề. “Ủy ban Dân tộc thiểu số là sự thất bại của cách tiếp cận từ trên xuống (..) dân tộc thiểu số hiếm khi tham gia vào các dự án phát triển quy hoạch, và hiếm khi biết họ được hưởng những gì khi dự án được thực hiện” [5]

2.2.3 Sự thay đổi về tư duy chính sách

Trong khoảng thời gian dài áp dụng những chính sách của thời kì trước, những bất ổn dần bộc lộ, chính phủ Việt Nam dần dần đứng trước quyết định của sự thay đổi tư duy về chính sách. Hiện tượng này đã được nhắc đến với cụm từ “khai trừ dân tộc” (ethnocide), hiện tượng miêu tả các quốc gia trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đã tạo ra cuộc xung đột sắc tộc do mục tiêu chính là phát triển quốc gia thay vì hài hoà lợi ích các dân tộc. Tuy nhiên, ngày nay, các mô hình phát triển đã thay đổi, từ “khai trừ dân tộc” đã chuyển hướng sang “phát triển dân tộc” (ethnodevelopment) mở ra cơ hội cho các dân tộc thiểu số tự quyết định con đường phát triển của họ [3].

Phát triển dân tộc có thể hiểu là một quá trình phát triển liên quan đến bốn yếu tố quan trọng bao gồm đa nguyên văn hóa, quyền tự quyết nội bộ, chủ nghĩa lãnh thổ và tính bền vững [3]. Với quan niệm mới này được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực phát triển, Việt Nam, không đứng ngoài làn sóng thay đổi, bắt đầu xây dựng chính sách mới và tập trung hơn vào quyền phát triển của dân tộc thiểu số.

Sau khi mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã chào đón nhiều nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức quốc tế đầu tư, hỗ trợ và giải quyết các vấn đề phát triển dân tộc thiểu số. Hiện tại, tất cả các bộ ban ngành của chính phủ tại Việt Nam đã xây dựng các chương trình phát triển và phát triển dân tộc thiểu số và nhận được hỗ trợ từ các tổ chức lớn. Ví dụ, từ báo cáo quốc gia trong mối quan hệ làm việc với một tổ chức quốc tế, tất cả các bộ của nhà nước hiện có các dự án và kế hoạch nhận được tài trợ từ các gói Hỗ trợ Phát triển Chính thức, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, v.v. Mặc dù, những dự án này thể hiện sự chồng chéo và trùng lặp các dự án của chính phủ trong chiến lược phát triển dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng nhà nước vẫn đang thúc đẩy đầu tư vào các khu vực dân tộc thiểu số.

Trong các chiến lược phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay, nhà nước Việt Nam luôn đề cao tiêu chí “Đoàn kết dân tộc”, do đó phát triển dân tộc thiểu số là trọng tâm để quảng bá hình ảnh đất nước, với tư cách là một quốc gia đa dạng và hòa bình. Từ đó, nhà nước dần mở rộng hơn không gian tham gia của người dân trong các quyết sách về phát triển. Nhất là với những dự án có vốn đầu tư nước ngoài, đánh giá có sự tham gia của người dân đã trở thành công cụ tiên quyết đảm bảo đầu ra của dự án.

Ảnh 5. Dân tộc thiểu số học kinh tế buôn bán của người Kinh

Hiện nay, với nền kinh tế thị trường, nhà nước cũng nhận ra khoảng cách giữa người Kinh và dân tộc thiểu số, và nhiều chính sách đã được ban hành để giải quyết vấn đề này và tập trung chú ý vào phát triển kinh tế xã hội cho các dân tộc thiểu số. Để giải quyết khoảng cách ngày càng lớn giữa dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh, cũng là vấn đề đất đai và các vấn đề khác liên quan đến giảm nghèo, chính phủ Việt Nam đã áp dụng nhiều chính sách, một số chính sách quan trọng ảnh hưởng đến mục tiêu này là trình bày như sau:

• Quyết định số 132 / QĐ-TTG ngày 08/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao đất sản xuất và đất thổ cư cho các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Việt Nam;

• Chương trình 134 hoặc Quyết định số 134/2004 / QĐ-TTG ngày 20 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng Chính sách về chính sách cung cấp đất sản xuất, đất thổ cư, nhà ở và nước sinh hoạt cho người dân tộc thiểu số có người nghèo tiêu chuẩn;

• Chương trình 135 theo Quyết định số 135/1998 / QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 31 tháng 7 năm 1998 và Quyết định số 551 / QĐ-TTG ngày 04/04/2013 của Thủ tướng Chính phủ về đầu tư hỗ trợ cơ sở hạ tầng, sản xuất cho các xã / vùng biên giới cực kỳ khó khăn, các hộ gia đình nằm trong vùng an toàn, thôn bản có khó khăn đặc biệt;

• Quyết định số 153/2004 / QĐ-TTG ngày 17 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự Việt Nam 21) số 432/2012 / QĐ-TTG ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về sự cải tiến của chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, giai đoạn 2011-2020.

• QĐ số 34/2006/QĐ-TTg ngày 8/2/2006 phê duyệt dự án đào tạo cán bộ, công chức xã phương trị trấn người DTTS giai đoạn 2006-2010. • QĐ 33/2007/QĐ-TTg về chương trình hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư cho đồng bào DTTS giai đoạn 2007- 2010. • QĐ số 1342/QĐ-TTg ngày 25/08/2009 của Chính phủ ban hành, phê duyệt Kế hoạch định canh định cư cho đồng bào DTTS du canh du cư đến năm 2012

Ngoài ra, ngoài khuôn khổ pháp lý quốc gia, Tổ chức quốc tế tài trợ cho phát triển tại Việt Nam như World Bank, ADB, tại Việt Nam cũng xây dựng Khung chính sách dân tộc thiểu số của riêng họ được phát triển trên cơ sở OP 4.10 của Ngân hàng Thế giới .

2.3. Những vấn đề trong thực hiện chính sách

2.3.1 Minh bạch tài chính và quản lý công

Điều khó khăn nhất ở các nước đang phát triển là cuộc chiến chống tham nhũng và không minh bạch. Theo dữ liệu từ Tổ chức Minh bạch Quốc tế, trong năm 2019 Việt Nam xếp hạng 96 trên 180 quốc gia về tính minh bạch với tổng điểm 37 trên 100 [21]. Số liệu này phản ánh tình trạng minh bạch tài chính và dữ liệu của các dự án phát triển hiện có ở Việt Nam hiện vẫn còn đang rất thấp.

Minh bạch có nghĩa là cung cấp thông tin đầy đủ và minh bạch về việc xây dựng dự án, dự án, chiến lược, v.v. thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hoặc bất cứ điều gì, để đảm bảo rằng tất cả mọi người nắm bắt đầy đủ thông tin về các quy trình và các điểm quan trọng của chính sách. "Minh bạch là về việc biết những gì các tổ chức công cộng và các viên chức nhà nước đang làm, cũng như biện minh cho các quyết định hoặc hành động của họ." (Hoa, T., & Garcia-Zamor, J., 2017).

Tính minh bạch của thông tin và trách nhiệm giải trình cho phép mọi người, các tổ chức xã hội dân sự thể hiện quyền và khả năng tham gia vào các chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến họ. Tạo một nền tảng cho phép tiếng nói bình đẳng trong tham vấn và huy động cộng đồng, từ đó quá trình ra quyết định đảm bảo rằng các quyền và ý định của người dân được bảo đảm. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật và chính sách chưa đưa ra cơ chế giám sát và tham gia đầy đủ, khiến cho tính minh bạch thông tin không hữu ích trong thực tế. Nhà nước Việt Nam chỉ đang dừng ở chủ trương "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", trong khi thực tiễn thúc đẩy sự tham gia vẫn còn đang mang tính hình thức. Việc thiếu cơ chế khung pháp lý quy định trách nhiệm chi tiết cũng dẫn đến rất nhiều dự án phát triển hiện nay sử dụng khung dân tộc thiểu số nhưng không tạo được giá trị thực tiễn. Phân tích dự án sau sẽ làm rõ hơn về tính minh bạch của thông tin trong chu trình thực hiện dự án phát triển hiện nay.

---

Đập thủy điện Mường Khương

Báo cáo khung phát triển dân tộc thiểu số năm 2016

Đập thủy điện Mường Khương là dự án dự kiến sẽ được xây dựng trên suối Lan Tự Hồ tại các tỉnh Din Chin và Nam Lu, huyện Mường Khương thuộc tỉnh Lào Cai. Xã Din Chin và xã Nam Lu là hai khu vực biên giới cực kỳ cao của huyện Mường Khương, cách trung tâm huyện 6-8km về phía đông. Có 713 hộ gia đình ở xã Nam Lư, 3344 người, 3 dân tộc là người Nùng chiếm 81%, người Mông chiếm 15% và Phú La chiếm 4%. Theo báo cáo về dân tộc thiểu số của các dự án, 100% hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi các dự án là người dân tộc thiểu số. Dân tộc chính sẽ bị ảnh hưởng bởi các dự án trong khu vực là dân tộc Nùng (71 hộ), Pa Di (2 hộ) và Tudi (1 hộ).

Dự án này sẽ xây dựng hồ chứa thủy điện trên đất của hai xã, với mục tiêu hỗ trợ phát triển cung cấp điện giá rẻ, đảm bảo lưới điện, bền vững xã hội và môi trường. Địa điểm dự án cách trung tâm thị trấn Mường Khương khoảng 10,0 km.

Trong báo cáo được lập với chủ dự án LICOGI 18.3, dự án sẽ lấy 152.461,3 m2 đất của người dân tộc thiểu số địa phương. Một tác động khác là dòng chảy thay đổi của dòng sông, nổ mìn, phân loại địa điểm và xói mòn đất. Ngoài ra, các dự án cũng ảnh hưởng đến văn hóa bản địa địa phương và làm tăng các vấn đề xã hội do công nhân bên ngoài sống trong trại lao động, xây dựng nguy cơ tai nạn, buôn bán phụ nữ, HIV, vv. Đối với dự án này, công ty đầu tư đã sử dụng khung chính sách từ các Hiến pháp của Việt Nam năm 1946, 1959, 1980 và 1992, cùng với các văn bản pháp lý khác (cập nhật đến năm 2016) liên quan đến các công việc và chiến lược phát triển cho dân tộc thiểu số cũng như các chính sách phát triển dân tộc của Ngân hàng Thế giới (WB) - OP4.10. Dự án sử dụng phương pháp tham vấn cộng đồng vào năm 2016, với 40 người đại diện cho các hộ gia đình (35 nam và năm nữ) trên 74 hộ bị ảnh hưởng.

---

Sau khi đọc các đánh giá dự án nêu trong báo cáo, có những điểm nghi ngờ sau: Với những tác động của dự án có thể thấy rất nghiêm trọng, đổi lại, người dân tại đại bàn chỉ cam kết được hưởng những lợi ích sau: Được xây dựng văn hóa cộng đồng; Được đào tạo để sử dụng điện an toàn; nước sạch được hứa hẹn sau khi dự án hoàn thành, các con đường liên làng được xây dựng và kết nối với đường cao tốc. Những người bị ảnh hưởng trong dự án có thể sử dụng điện từ các trạm điện áp thấp từ dự án. (Không cam kết về trợ cấp điện, nước); Cam kết sử dụng 100 công nhân địa phương trong quá trình xây dựng, 5 vị trí công nhân lâu dài khi kết thúc dự án.; Được đào tạo mô hình chăn nuôi.; Hồ chứa thủy điện sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân đánh bắt cá trên sông (Đập và hồ sẽ làm thay đổi dòng chảy của sông, có thể ảnh hưởng đến chu kỳ sinh sản của cá); Xây dựng mô hình chăn nuôi bò để lấy thịt và sản xuất, mô hình này nằm trong nhóm của các hộ gia đình.

"2 hộ gia đình sẽ nuôi một con bò cái (con bò có thể sinh sản, ít nhất 12 tháng tuổi). Ưu tiên cho hộ gia đình mất hơn 30% tổng diện tích đất nông nghiệp, sau khi hai hộ nhận đủ bò, bò mẹ sẽ chuyển đến các hộ bị ảnh hưởng đã mất hơn 10% tổng diện tích đất nông nghiệp. Hỗ trợ mười con bò giống và huấn luyện kỹ thuật"

Ảnh 6. Khả năng tiếp cận thông tin của các dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn

Nghịch lý ở đây là chỉ một số ít hộ gia đình sẽ nhận được chính sách này khi họ mất hơn 30% đất nông nghiệp và lấy lại một con bò, sau đó sẽ được chuyển đến một ngôi nhà khác khi bê sinh ra. Liệu mô hình này sẽ thay thế những ảnh hưởng của việc mất đất mà họ đã có? Điều gì sẽ là lựa chọn sinh kế cho những người mất đất nông nghiệp sau khi thời gian xây dựng kết thúc? Ngoài ra, dự án cũng xây dựng các cơ chế giám sát và khiếu nại cho người dân tộc thiểu số với các bước sau:

Giai đoạn 1: Người dân tộc thiểu số địa phương có thể tham gia trực tiếp bằng lời nói hoặc bằng văn bản cho Uỷ ban nhân dân xã hoặc bằng lời nói hoặc bằng văn bản cho thành viên ban tham vấn cộng đồng tại xã, sau đó ban này sẽ làm việc với Uỷ ban nhân dân xã và Uỷ ban nhân dân xã sẽ giải quyết vấn đề trong vòng 15 ngày kể từ ngày khiếu nại được nhận.

Giai đoạn 2: Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Nếu người dân tộc thiểu số không có bất kỳ phản hồi nào hoặc người dân tộc thiểu số không hài lòng với quyết định này, họ có thể khiếu nại với Ủy ban nhân dân huyện.

Giai đoạn 3: Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Nếu người dân tộc thiểu số không có phản hồi hoặc người dân tộc thiểu số không hài lòng với quyết định của Ủy ban nhân dân huyện, họ có thể khiếu nại lên Ban Dân tộc thiểu số tỉnh.

Giai đoạn 4: Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Nếu người dân tộc thiểu số không có bất kỳ phản hồi nào hoặc người dân tộc thiểu số không hài lòng với quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh, người dân tộc thiểu số, như là phương sách cuối cùng có thể đệ trình / trường hợp của mình đến tòa án huyện.

Nguồn: Báo cáo về thực hiện khung dân tộc thiểu số của dự án

Với khả năng truy cập vào thông tin của các dân tộc thiểu số, có thể nhận ra rằng cơ chế này chưa bao giờ được áp dụng và đưa vào thực tế. Theo báo cáo của các dân tộc thiểu số và các mục tiêu phát triển bền vững, các yếu tố xác định khả năng tiếp cận thông tin của dân tộc thiểu số là không đủ; điều này ảnh hưởng đến việc nắm bắt thông tin, lợi ích, hạn chế tham gia, cơ chế hợp tác, giám sát, kiểm tra, đánh giá, kiện cáo và khiếu nại của người dân. Với việc tiếp cận thông tin khó khăn, việc mọi người hiểu thông tin về các dự án đang được thực hiện hoặc hiểu chính sách hỗ trợ của chính phủ là một thách thức.

2.3.2 Tham gia có thực sự là giải pháp phát triển thay thế?

Bắt đầu từ sự thay đổi trong quan niệm về sự tham gia sau chiến tranh thế giới thứ II và cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới, khi hầu hết các dự án phát triển đều thất bại, nhưng một số ít các dự án có người dân địa phương tham gia đã thành công và dường như tìm cách tự duy trì. Năm 1973 đánh dấu cột mốc quan trọng trong việc thay đổi ý thức hệ về nguyên tắc của các dự án phát triển khi các tổ chức phi chính phủ, nhà hoạt động và nhà hoạch định phát triển nghĩ về việc tham gia như là công cụ cơ bản trong các dự án phát triển. Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc khuyến nghị các quốc gia thành viên "chấp nhận tham gia như một biện pháp chính sách cơ bản trong chiến lược phát triển quốc gia".

Năm 2001, Báo cáo của Ngân Hàng Thế giới về giảm thiểu đói nghèo đã nhận định, sự tham gia trong phát triển sẽ giúp những nhóm ngoài lề dịch chuyển vào trọng tâm. Làn sóng này cũng bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam trong thời kì đầu mở cửa, cho đến nay tham gia hiện đang được coi là phương pháp cơ bản trong tất cả các dự án để đạt được tính minh bạch và trách nhiệm. Sự tham gia được Chính phủ và người quản lý dự án coi trọng, xem như là công cụ có thể khuyến khích và tối đa hóa sự đóng góp từ người dân, nâng cao hiệu quả của các dự án.

Tuy nhiên, trên thực tế sự tham gia chưa hề được thống nhất nội hàm cũng như cách dùng, những nhà nghiên cứu hay nhà quản lý dự án thường sử dụng tham gia với khung công cụ được quy định bởi Ngân hàng thế giới, hoặc các tổ chức tài trợ dự án, mỗi khung công cụ này lại có cách hiểu và khuôn khổ khác nhau. Các dự án luôn nói rằng nó cần thiết như giải pháp cho các thách thức hiện tại. Tuy nhiên sự tham gia là gì, thì câu trả lời chưa hề rõ ràng. Trong các báo cáo hiện nay “tham gia” được hiểu như “phát biểu ý kiến”,”tham gia cuộc họp”, “góp công sức”, chứ chưa thực sự có góc nhìn toàn diện về sự tham gia [7;9;22]

Chẳng hạn, Christoplos từng bình luận về các phân tích Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam chỉ ra rằng "PRA không tiết lộ một quan điểm thay thế cho quan điểm nghèo đói nhưng phục vụ để hợp pháp hóa các diễn ngôn (chính thức) với các lời chứng thực của nông dân" [4].

Cho đến nay, sự tham gia của người dân tộc thiểu số vào các quyết sách phát triển còn khá hạn chế. Hiện nay, sự tham gia chỉ dừng ở mức độ tham gia hội họp, phát biểu ý kiến, đồng tình, và đóng góp công sức vào dự án. Trong khi đó, nếu chúng ta lần ngược lại lịch sử chính sách của Việt Nam thì vấn đề không phải nằm ở việc người dân tộc thiểu số có ý chí phát triển hay không, mà là chính họ có là chủ thể kiến tạo diễn ngôn phát triển của riêng họ hay không.

Ảnh 7. Sự tham gia trong phát triển còn là phản biện và tái định nghĩa tư tưởng

Lấy ví dụ trong chính sách đập thuỷ điện ở Mường Khương, người dân tộc thiểu số không phải là nhóm người có khả năng tiếp cận xây dựng ý tưởng về phát triển ngay từ ban đầu. Thay vào đó, chính phủ cùng với các nhóm chuyên gia mới là người có khả năng kiến tạo và độc quyền về diễn ngôn phát triển. Kết quả là “đập thuỷ điện” được xem như là một giải pháp để phát triển kinh tế cho vùng núi, vùng dân tộc thiểu số và dự án được tiến hành dựa trên ý chí của nhóm lãnh đạo.

Do đó, khái niệm về sự tham gia cần được xem xét lại để mở rộng nội hàm. Sự tham gia trong phát triển, không thể chỉ dừng ở mức tương tác với các chính sách và dự án của chính phủ xây dựng, mà phải là kiến tạo diễn ngôn – tức là phản biện và tái định nghĩa tư tưởng.

Tóm lại, sự tham gia có thể là một phương pháp để người dân tộc thiểu số cất cánh và xây dựng mối quan tâm của họ trong các chiến lược phát triển. Tuy nhiên, sự tham gia, sự trao quyền phải đến từ việc bỏ qua định kiến và tin vào kiến thức và khả năng của cộng đồng, kiến thức địa phương, quan hệ xã hội của cộng đồng mà ở đây là nhóm người dân tộc thiểu số đang trong mối quan hệ thua thiệt hơn về cả danh tính dân tộc và quyền lực xã hội.

3. KẾT LUẬN

Chính sách thường được xây dựng dựa vào niềm tin và tư tưởng của nhà nước, do đó rất dễ đến tình trạng không khù hợp và thủ tiêu đi sự chủ động của cộng đồng trong việc định đoạt sự phát triển của họ. Chính sách phát triển cho nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong một thời gian dài đã thể hiện sự bất cập đó, dẫn đến tình trạng phát triển không bình đẳng và tạo dựng mối quan hệ không ngang bằng giữa các nhóm dân tộc trong quốc gia với nhau.

Chính sách của một quốc gia cần tính đến nhu cầu đảm bảo lợi ích bình đẳng cho tất cả mọi người, bình đẳng không có nghĩa là "một cho tất cả"; nhưng đòi hỏi các chiến lược hỗ trợ cụ thể để đảm bảo mọi người đều có cơ hội bắt đầu tại cùng một điểm; mọi người đều có cơ hội lựa chọn con đường phù hợp với mình; có quyền lên tiếng; có khả năng quyết định lựa chọn tốt nhất cho sự quan tâm của họ đối với sự phát triển. Do đó, với sự phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số, chính phủ Việt Nam cần xem xét chính sách và pháp luật mà họ hiện đang điều chỉnh, để tạo không gian an toàn cho dân tộc thiểu số tham gia vào quá trình xây dựng chính sách.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Anh, Đ. N. (2005). Di dân trong nước: Vận hội và thách thức đối với công cuộc đổi mới và phát triển ở Việt Nam. Hà Nội: Trung Tâm Kinh Tế Châu Á-Thái Bình Dương (VAPEC)/Vietnam Asia-Pacific Economic Center, Nhà Xuất Bản Thế Giới.
[2]. Anh, N. T. (2016). Dak Lak: People say that the commune authorities force to buy cows. Trích từ: http://daidoanket.vn/tieng-dan/dak-lak-dan-to-xa-ep-mua-bo-tintuc143006
[3]. Clarke, G. (2001). From ethnocide to ethnodevelopment? Ethnic minorities and indigenous peoples in Southeast Asia. Third World Quarterly, 22(3), 413-436.
[4]. Christoplos, I. (1995). Representation, poverty and PRA in the Mekong Delta: EPOS.
[5]. Cohen, M. (2001). Vietnam: have your state and eat it. Far Eastern Economic Review, 22.
[6]. Dang Nguyen Anh. (2009). Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi.
[7]. Đạo, B. M. (2003). Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam. Khoa học xã hội.
[8]. Dũng Vũ. Một số vấn đề cần quan tâm đối với các dân tộc thiểu số tây bắc hiện nay. Khoa học Xã hội Việt Nam(2), 34.
[9]. Dương, P. B., & Châu, G. S. (2014). Yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong giảm nghèo (Trường hợp huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai). Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế(4), 62-69.
[10]. Fujii, T. (2017). Has the Development Gap between the Ethnic Minority and Majority Groups Narrowed in Viet Nam? Evidence from Household Surveys. Trích từ: Tokyo: https://www.adb.org/publications/development-gap-ethnic-minority-majority-groups- narrowed-viet-nam
[11]. Hardy, A. (2000). Strategies of migration to upland areas in contemporary Vietnam. Asia Pacific Viewpoint, 41(1), 23-34. doi:doi:10.1111/1467-8373.00104
[12]. Hardy, A. (2005). Red hills: Migrants and the state in the highlands of Vietnam (Vol. 93): NIAS Press.
[13]. Hoàng Cầm, P. Q. P., ISEE (2012). Diễn ngôn chính sách và sự thay đổi văn hóa - sinh kế tộc người. Trích từ: Ha Noi
[14]. Huy, V. T. (1998). Những đặc điểm nhân khẩu và kinh tế xã hội của các nhóm dân tộc Mường, H’Mông, Dao và Gia Rai ở Việt Nam. Tạp chí xã hội học.
[15]. Khổng Diễn. (1996). Những đặc điểm kinh tế xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
[16]. McElwee, P. (2004). Becoming socialist or becoming Kinh? Government policies for ethnic minorities in the Socialist Republic of Viet Nam: Cornell University Press.
[17]. Nam, U. V. (2017). Overview of socio-economic situation of 53 ethnic minorities. Trích từ: Ha Noi http://www.vn.undp.org/content/vietnam/vi/home/library/poverty/bao-cao-53-dan-tc.html
[18]. Phạm, Q. H. (2014). Quản lý quan hệ tộc người và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay.
[19]. Phan Huu Dat. (1998). Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam. In: NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
[20]. Thinh, P. (2016). Ethnic Minorities and Sustainable Development Goals: Who Will Be Left Behind? . Trích từ:

http://www.vn.undp.org/content/vietnam/en/home/library/poverty/ethnic-minorities-and-sustainable-development-goals--who-will-be.html
[21]. Tổ chức minh bạch quốc tế. (2020). Báo cáo minh bạch thế giới 2019.
[22]. UNDP. (2012). Tác động của Chương trình 135 giai đoạn II qua lăng kính hai cuộc điều tra đầu kỳ và cuối kỳ. Hà Nội
[23]. United Nations. (2018). Indigenous peoples and ethnic minorities: Marginalization is the norm.
[24]. Vạn, Đ. N. (1989). Những vấn đề xã hội hiện nay ở Tây Nguyên.Tây Nguyên trên đường phát triển. Ha Noi: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
[25]. Vạn, Đ. N., Luu, H., & Son, C. T. (1984). The ethnic minorities in Vietnam: Foreign Languages Publishing House.
[26]. Wirth, L. (1945). The problem of minority groups. In R. Linton (Ed.), The science of man in the world crisis (pp. 347–372). New York: Columbia University Press.
[27]. World Bank. (2018). Climbing up the ladder: Poverty Reduction and Shared Prosperity in Viet Nam.
---

Nguồn ảnh

Ảnh bìa:

https://thoidai.com.vn/bo-anh-tuyet-dep-ve-ngay-tet-cua-dong-bao-dan-toc-hmong-o-moc-chau-52089.html

Ảnh 1:

https://bizweb.dktcdn.net/100/006/093/files/27467-trang-phuc-nguoi-dan-toc-tay.jpg?

Ảnh 2, 3, 5, 6

https://thoidai.com.vn/bo-anh-tuyet-dep-ve-ngay-tet-cua-dong-bao-dan-toc-hmong-o-moc-chau-52089.html?

Ảnh 4:

https://media1.nguoiduatin.vn/media/ton-duc-vy/2019/01/30/tuc-don-tet-ky-la-cua-cac-dan-toc-thieu-so-nuoc-ta.jpg

Ảnh 7:

https://hagiangsensetravel.com/view/at_nhung-phong-tuc-don-tet-nguyen-dan-cua-cac-dan-toc-thieu-

---

Media Team, Sociology Hue - HUSC
Editor
: Hồng Thảo | hongthao1409@gmail.com