Tính chủ động tương tác trong học tập của sinh viên trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay

Khoa Xã hội học

Nghiên cứu

Tác giả: Võ Nữ Hải Yến

23 Tháng Tư, 2020

Tính chủ động tương tác trong học tập của sinh viên trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay

TÓM TẮT

Tương tác trong học tập là một kỹ năng hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi người học, nhất là trong đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay. Việc tương tác trong quá trình học thể hiện qua nhiều hoạt động như: phát biểu trong giờ học; làm việc nhóm; tranh luận với giảng viên.... Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn sinh viên trường Đại học Khoa học vẫn chưa tích cực, khá thụ động trong quá trình tương tác ở trên lớp. Để giúp sinh viên tăng cường tính chủ động tương tác trong quá trình học tập, cần phải có sự nỗ lực từ nhiều phía: từ bản thân của người học, từ phương pháp giảng dạy và đánh giá của giảng viên đến công tác quản lý của các khoa, phòng ban chức năng trong toàn trường.

Từ khóa: chủ động, tương tác, sinh viên.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tính tích cực, chủ động trong học tập là một thành phần quan trọng của quá trình học. Nó vừa là yếu tố phản ánh vai trò chủ thể của người học trong hoạt động nhận thức lại vừa là điều kiện góp phần tạo ra kết quả học tập thực sự của họ, đáp ứng mục tiêu chất lượng trong giáo dục, nhất là giáo dục đại học. Tính tích cực trong học tập được thể hiện ở nhiều khía cạnh, trong đó rõ nét nhất phải kể đến đó là kỹ năng tương tác. Đây là một kỹ năng hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi người học, nhất là trong đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay. Bằng những tương tác có tổ chức, sinh viên sẽ học cách tự trình bày ý kiến, bày tỏ quan điểm, biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của người khác đồng thời vẫn thể hiện sự độc lập của mình, chính nhờ vào sự chủ động, tích cực, người học mới có đủ khả năng để tự mình làm giàu vốn tri thức của mình.

Tuy nhiên, trên thực tế, trong quá trình học tập, sinh viên trường Đại học Khoa học đã thực sự chủ động, tích cực tương tác hay chưa? Những phân tích dưới đây sẽ mô tả thực trạng này và trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp thích hợp nhằm giúp sinh viên phát huy tính chủ động tương tác trong học tập, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường. Bài viết này dựa trên kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp sơ sở “Thực trạng và giải pháp nâng cao tính chủ động của sinh viên trong đào tạo tín chỉ ở trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay”. Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Khoa học, Đại học Huế từ tháng 1/2014 đến tháng 2/2015. Bằng phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn trong phân tích xã hội học, nghiên cứu này đã tiến hành điều tra trên 160 sinh viên thuộc 2 khóa K36 và K37 của 3 khoa: Ngữ văn, Hóa học, Khoa học môi trường và Bộ môn Công tác xã hội.

2. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tương tác trong học tập bao gồm nhiều hoạt động, đó không chỉ đơn thuần là việc phát biểu trong giờ học mà còn thể hiện xuyên suốt trong quá trình tương tác với bạn học và giảng viên. Những phân tích dưới đây sẽ mô tả cụ thể về việc thực hiện các hành vi này của sinh viên để qua đó thấy được mức độ chủ động của họ trong tương tác trên lớp.

2. 1. Phát biểu trong giờ học

Một trong những dấu hiệu rất dễ nhận thấy sinh viên có chủ động học tập hay không chính là ở việc sinh viên tích cực phát biểu xây dựng bài trong giờ học, bởi qua đó, thể hiện sự say mê, thiết tha học tập của sinh viên và mức độ chủ động tham gia của họ vào quá trình khám phá tri thức.

Biểu đồ 1. Mức độ sinh viên trường Đại học Khoa học phát biểu trong giờ học (%)

(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát năm 2014)

Kết quả xử lý số liệu ở biểu đồ 1 cho thấy, có 6,9% sinh viên được hỏi trả lời rằng họ không bao giờ phát biểu xây dựng bài trong giờ học, 21,9% hiếm khi thực hiện hành động này, 53,8% thỉnh thoảng và chỉ có 17,5% thường xuyên phát biểu trong giờ học.

Sinh viên ngồi im thu động, “ngại” phát biểu khi giảng viên đặt câu hỏi là một thực trạng đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều lớp học hiện nay. Trong một nghiên cứu ở trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã cho thấy có tới 36,1% sinh viên biểu lộ phong cách học thụ động: ngại nêu thắc mắc, ngại nói ra ý tưởng riêng của mình trong các cuộc thảo luận trên lớp; xấp xỉ 30% sinh viên thỉnh thoảng tham gia trả lời câu hỏi của giảng viên, trong khi đó, đến hơn 60% sinh viên không bao giờ tham gia. Sinh viên thường xuyên chủ động nêu ra các vấn đề để thảo luận trên lớp chỉ có 5%, trong khi có đến 76% sinh viên không bao giờ chủ động đưa ý kiến cá nhân. Tương tự như vậy, theo kết quả điều tra bằng bảng câu hỏi đối với 100 sinh viên trường Cao đẳng Công nghệ thông tin (Đại học Đà Nẵng), chỉ có 7% sinh viên thường xuyên tham gia phát biểu ý kiến trong giờ học, 55% sinh viên thỉnh thoảng phát biểu - chủ yếu là do giáo viên trực tiếp chỉ định, 22% sinh viên rất ít khi phát biểu và 10% sinh viên không bao giờ phát biểu [9].

Thông tin từ các cuộc phỏng vấn sâu đã phản ánh rõ điều này. Một sinh viên khoa Ngữ văn cho biết: “Nhiều bạn cứ nghĩ rằng, chuyện phát biểu là việc của ai đó chứ không phải là của mình. Mình không phát biểu thì có người khác phát biểu, mà nếu thầy cô gọi mãi không thấy ai xung phong thì sẽ “chọn mặt gửi vàng” trong danh sách lớp và sẵn làm luôn công việc điểm danh. Xong, thế là qua chuyện, hoạ hoằn lắm thầy cô mới gọi trúng mình” (Sinh viên, nữ, khoa Ngữ văn K36). Một sinh viên khoa Hoá học cũng chia sẻ: “Nhiều bạn lớp em rất sợ bị gọi đứng lên trả lời câu hỏi, vì vậy, khi thầy cô đi một vòng quanh lớp, các bạn thường cúi mặt xuống vì sợ… bị gọi” (Sinh viên, nữ, Khoa Hoá học, K36). Một giảng viên cũng đã bày tỏ về vấn đề này: “Những câu hỏi mà giảng viên nêu ra trong giờ giảng thường đều nằm trong phạm vi hiểu biết và có thể trả lời của sinh viên, nhưng rất ít khi có cánh tay nào giơ lên. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến không khí học tập trong lớp. Nó gây ra áp lực mỗi khi giáo viên đặt câu hỏi. Sinh viên thì cảm thấy căng thẳng, còn giáo viên thì cảm thấy chán nản vì chỉ có sự làm việc một chiều” (Giảng viên, nữ, Khoa Ngữ văn).

Ảnh minh họa 1

Rõ ràng, khi sinh viên ngại phát cũng đồng nghĩa với việc không dám nói lên quan điểm của mình, không dám nói sự thật, không dám nhìn nhận cái sai...Và như thế, cái sai, cái mơ hồ sẽ không được làm rõ nên không thể tìm ra được cách giải quyết, không thể tiến bộ.

Vậy nguyên nhân nào mà sinh viên lại ngại phát biểu như vậy? Thông qua phỏng vấn sâu đã cho thấy một số lý do như sau: “Do sinh viên lười học, không chịu chuẩn bị bài trước ở nhà mà chỉ đợi lên lớp chờ giảng viên giảng rồi chép vào nên không đủ kiến thức để trả lời những câu hỏi của thầy cô”(Sinh viên, nữ, Văn học, K36); “Vì sợ phát biểu sai bị bạn bè cười nhạo và đôi khi sự bị thầy cô la thì quê độ” (Sinh viên, nam, Công tác xã hội K37); “Trong lớp không ai phát biểu mà mình phát biểu sợ bị coi là “chảnh”; trong lớp nhiều bạn tám chuyện hoặc không tập trung nghe giảng nên không hiểu rõ câu hỏi, hoặc cũng có khi câu hỏi quá dễ, bạn nào cũng biết rồi nên không ai giơ tay phát biểu vì không có hứng thú” (Sinh viên, nữ, Khoa học môi trường K36); “Không tự tin vào bản thân, ngại ngùng khi phải đứng lên và trả lời trước đám đông” (Sinh viên, nam, Khoa học môi trường, K37).

Như vậy, có nhiều lý do khác nhau khiến cho sinh viên ít phát biểu trong giờ học, nhưng dù nguyên nhân nào đi chăng nữa thì hầu hết cũng đều xuất phát từ chính sự thiếu tích cực, chủ động của bản thân người học, vì không chuẩn bị bài, không nắm vững kiến thức nên không tự tin để trả lời câu hỏi; tâm lý ngại ngùng, tự tin khi đứng trước nhiều người và cả sự thụ động, ỉ lại vào người khác.

Chất lượng giảng dạy không chỉ phụ thuộc vào người dạy. Cùng với vai trò nhạc trưởng là người thầy, người học đóng vai trò trung tâm như các nhạc công làm nên bản hòa âm. Tinh thần, thái độ của người học rất quan trọng trong các tiết học. Người học là người chủ của buổi học, là nhân tố quyết định đối với chất lượng kiến thức thu được sau buổi học. Nếu người học không yêu thích, không chủ động, chưa có trách nhiệm với việc học của mình thì rất khó có được một giờ giảng sôi nổi, có chất lượng

2.2. Làm việc theo nhóm

Với tiêu chí “Lấy người học làm trung tâm”, quy chế đào tạo tín chỉ luôn hướng đến mục tiêu kích thích sự tư duy, chủ động của người học. Làm việc theo nhóm là một trong những phương pháp học tập phát huy tính sáng tạo, tư duy độc lập, tinh thần tập thể của sinh viên. Bởi khi làm việc nhóm, các thành viên phải cùng phối hợp chặt chẽ với nhau để giải quyết một vấn đề học tập cụ thể nhằm hướng đến một mục tiêu chung; sản phẩm của nhóm là sản phẩm của trí tuệ tập thể. Các hình thức làm việc nhóm trong sinh viên hiện nay có thể kể đến như là học nhóm, làm báo cáo (xemina), tiểu luận, đồ án … Các tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả làm việc nhóm có thể kể đến như là sự thỏa thuận thông qua nhất trí trong làm việc, xung đột và sáng tạo lành mạnh trong làm việc nhóm, giao tiếp trong nhóm và chia sẻ quyền lực trong nhóm làm việc.

Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng 5 tiêu chí để đánh giá tính tích cực, chủ động khi làm việc nhóm của sinh viên, đó là: Hành động tích cực phát biểu trong quá trình làm việc nhóm; Điều chỉnh, từ bỏ quan điểm khi nhận thấy quan điểm đó là sai; Tích cực tiếp thu ý kiến của nhóm nếu đúng; Đưa ra được những nhận xét xác đáng với nhóm; Có tinh thần tập thể, giúp đỡ bạn trong nhóm. Điểm của kĩ năng làm việc nhóm của sinh viên dao động từ 5 đến 25 điểm với mức tối thiểu là 5 điểm và tối đa là 25 điểm. Kết quả khảo sát cho thấy, kĩ năng làm việc nhóm của sinh viên trường Đại học Khoa học ở mức trung bình với giá trị trung bình chỉ đạt 11,32 điểm. Chủ yếu sinh viên tập trung đánh giá mức độ đạt được kĩ năng hoạt động nhóm ở mức 2 và 3, điều này thể hiện qua độ lệch chuẩn không lớn chỉ bằng 2,12.

Kết quả trên cũng phù hợp với những kết quả thu được từ phỏng vấn sâu sinh viên và giảng viên về kĩ năng làm việc nhóm của sinh viên. Sinh viên đa số đã thấy được vai trò và ý nghĩa của làm việc nhóm. Khi được hỏi về ưu điểm của phương pháp làm việc nhóm thì đa số có câu trả lời là làm việc nhóm tạo cơ hội cho sinh viên được thể hiện mình, trở nên mạnh dạn hơn, tự tin hơn, có trách nhiệm hơn; tăng cường sự gắn kết các thành viên trong lớp hơn, giúp các thành viên thu nhận và nắm vững nhiều kiến thức hơn. Tuy nhiên, khi tìm hiểu sâu hơn đã cho thấy không ít sinh viên học nhóm chỉ mang tính chất hình thức, chú trọng tạo ra sản phẩm để nộp cho thầy cô mà ít chú trọng đến quá trình hợp tác trong nhóm để hình thành những kĩ năng và thu được những kiến thức từ hoạt động nhóm đó. Nhiều sinh viên cũng cho biết, việc tham gia của các thành viên trong 1 nhóm là không giống nhau; chỉ có 1 số thành viên trong nhóm là tích cực hoạt động, các thành viên còn lại thụ động hoặc không làm việc, chỉ chờ các thành viên tích cực làm để cùng sử dụng sản phẩm làm ra. “Ở lớp em, nhiều khi làm việc nhóm là công việc của 1 hoặc 2 người trong nhóm, phần còn lại của nhóm thì chỉ trông chờ, ỉ lại; chờ khi các bạn khác làm xong rồi thì đọc kết quả để báo cáo trên lớp” (Sinh viên, nữ, Khoa Hoá học, K37)

Ảnh minh họa 2

Qua trao đổi với giảng viên cũng được biết, nhiều giảng viên của trường cũng đang hướng đến việc thay đổi hình thức kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao khả năng làm việc nhóm cho sinh viên. Thay vì việc kiểm tra viết bằng những câu hỏi học thuộc lòng, giảng viên đưa ra các bài tập nhóm, các tiểu luận yêu cầu sinh viên phải thực hiện và trình bày trước lớp. Tuy nhiên, theo nhận xét của các giảng viên thì sinh viên còn khá thụ động, không ít sinh viên thiếu sự tích cực, còn tư tưởng trông chờ, ỉ lại vào các bạn khác trong quá trình làm việc nhóm. Giảng viên cũng đánh giá khả năng trình bày quan điểm, khả năng giải quyết xung đột, kĩ năng chia sẻ trách nhiệm, kỹ năng tự kiểm tra - đánh giá hoạt động nhóm còn nhiều hạn chế.

Rõ ràng, học tập trong môi trường nhóm sẽ không chỉ thúc đẩy sự tích cực, sáng tạo trong học tập của sinh viên mà còn tạo sự gắn kết trong nhóm, giúp sinh viên làm quen với cách làm việc tập thể, có cơ hội học hỏi và biết cách lắng nghe. Mặc dù phương pháp học nhóm vẫn được nhiều giảng viên áp dụng nhưng thực tế nhiều sinh viên vẫn bị động trong hoạt động nhóm, chưa có kỹ năng làm việc nhóm, chưa tự giác và chưa tích cực, chủ động trong giờ học; nhiều nhóm hoạt động ỷ lại cho nhóm trưởng và một số thành viên khác trong nhóm.

2. 3. Yêu cầu giảng viên giải thích những vấn đề chưa hiểu rõ

Trong hoạt động học tập, sinh viên ngoài việc nghe giảng, chi chép, phát biểu xây dựng bài còn cần phải biết phản hồi, tranh luận để làm sáng tỏ vấn đề. Học là một quá trình đi tìm chân lý, trong quá trình đó, người học cần phải chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, nhiều khi có những điểm chưa nắm rõ, quan điểm mới, người học cũng cần phải biết bày tỏ và bảo vệ ý kiến của mình trước người khác.

Bảng 1: Mức độ sinh viên trường Đại học Khoa học yêu cầu giảng viên giải thích những vấn đề bản thân chưa hiểu rõ

(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát năm 2014)

Kết qủa xử lý số liệu ở bảng 1 cho thấy, có đến 20% sinh viên được hỏi trả lời rằng họ không bao giờ yêu cầu giảng viên giải thích những vấn đề bản thân chưa hiểu rõ; 41,9% hiếm khi thực hiện hành động này, 31,6% thỉnh thoảng và chỉ có tỷ lệ rất thấp 6,9% sinh viên được hỏi cho rằng họ thường xuyên thực hiện hành động này.

Số liệu trên cho thấy sinh viên trường Đại học Khoa học vẫn còn khá thụ động, chưa tự tin, mạnh dạn trong quá trình học trên lớp. Một giảng viên cho biết: “Rất nhiều sinh viên còn có thói quen học và tiếp thu bài trên lớp thụ động. Nhiều năm đi dạy tôi thấy có rất ít trường hợp sinh viên đứng lên hỏi bài hoặc thắc mắc về bài đang học ở lớp” (Giảng viên, nữ, Khoa Ngữ văn)

Việc sinh viên chưa chủ động yêu cầu giảng viên giải thích cho mình về những điều mà bản thân chưa hiểu rõ có thể đựơc lý giải rằng: Bản thân nhiều sinh viên vẫn chưa thực sự tích cực học tập, quen học theo lối thụ động, lười tư duy và yên tâm cho rằng, những kiến thức mà giáo viên cung cấp là đã đủ. Và như vậy, thói quen này đã cản trở khả năng sáng tạo của sinh viên không chỉ khi họ ngồi trên ghế nhà trường mà còn cả khi họ đi làm sau này. Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, trong quá trình giảng dạy, một số giảng viên vẫn chưa tạo được không khí thân thiện, cởi mở nên nhiều lúc sinh viên cũng cảm thấy e ngại, lo sợ khi đưa ra ý kiến hay yêu cầu giúp đỡ.

2. 4. Tranh luận với giảng viên khi bản thân có quan điểm khác với quan điểm mà giảng viên đưa ra

Trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay, sinh viên với tư cách là nguồn dự bị hùng hậu cho đội ngũ tri thức trong tương lai cần phải có óc phê phán, tư duy độc lập, sáng tạo. Và để có được những phầm chất đó, một trong những kỹ năng sinh viên cần có là tranh luận để làm sáng tỏ vấn đề, tìm ra chân lý.

Mục tiêu của giáo dục đại học không phải chỉ là trang bị những tri thức mà thúc đẩy sự giải phóng và phát triển trí tuệ của mỗi con người, giải phóng họ khỏi sự áp đặt, ép buộc, thúc đẩy họ khao khát khám phá, chiếm lĩnh tri thức và vươn tới sự sáng tạo. Việc tranh luận trong quá trình học sẽ giúp cho sinh viên rèn lối suy nghĩ có phê phán, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo; giúp sinh viên có kiến thức sâu rộng về những vấn đề đang tranh luận; rèn luyện khả năng hùng biện, thuyết phục người khác.

Bảng 2. Mức độ sinh viên trường Đại học Khoa học tranh luận với giảng viên khi bản thân có quan điểm khác với quan điểm của giảng viên đưa ra

(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát năm 2014)

Quan sát bảng 2 cho thấy, chỉ có 3,8% sinh viên được hỏi trả lời rằng họ thường xuyên tranh luận với giảng viên khi bản thân có quan điểm khác với quan điểm của giảng viên đưa ra và có đến 53,1% sinh viên không bao giờ làm điều này.

Số liệu trên đã cho thấy một thực tế của sinh viên hiện nay đó là tâm lý ngại nói lên ý kiến, ngại tranh luận, đó cũng là biểu hiện của sự thụ động, thiếu tính độc lập, tự chủ trong quá trình học.

Tâm lý “ngại” tranh luận ở sinh viên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, do ảnh hưởng của yếu tố văn hoá của một dân tộc hàng nghìn năm bị thống trị bởi chế độ phong kiến, chế độ gia trưởng nên nhiều người Việt Nam nói chung và sinh viên nói riêng thường “ngại” tranh luận, nhất là tranh luận với thầy cô giáo, do đó, nhiều khi nảy sinh tư tưởng xem thầy cô hiện diện như một thứ quyền lực tuyệt đối, mọi nỗ lực thảo luận và tranh luận, từ phía người dưới đều bị xem là bất kính nên chỉ cắm cúi lắng nghe và ghi chép . Thứ hai, cách thức giáo dục nặng về truyền đạt, nhồi nhét kiến thức và có phần áp đặt, theo mẫu, thiếu phát huy suy nghĩ độc lập vẫn đang tồn tại phổ biến ở nhiều trường học hiện nay đã ít nhiều đã hình thành nên đặc tính “lắng nghe tuân phục” của nhiều trí thức trẻ, là nguyên nhân làm nên sự thụ động của sinh viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chân lý không nảy sinh và nằm trong đầu một con người riêng lẻ, nó nảy sinh giữa những người đang cùng nhau đi tìm chân lý và trong quá trình giao tiếp đối thoại giữa họ với nhau”. Kỹ năng tranh luận là một phẩm chất trí tuệ rất cần thiết cho sinh viên nói riêng và con người hiện đại nói chung. Nếu không biết tranh luận, không dám bày tỏ quan điểm, không có óc phê phán và tư duy sáng tạo, độc lập, sinh viên có thể bị “mắc kẹt” trong nhiều dòng xoáy thông tin, sẽ không biết đâu là chân lý, hoang mang, dao động không tìm ra lối đi cho mình.

3. KẾT LUẬN

Sự tích cực, chủ động tương tác là một yêu cầu quan trọng trong quá trình học. Điều này vừa là yếu tố phản ánh vai trò chủ thể của sinh viên trong hoạt động nhận thức lại vừa là điều kiện góp phần tạo ra kết quả học tập thực sự của người học, đáp ứng mục tiêu chất lượng trong giáo dục đại học.

Qua những phân tích trên đã cho thấy, phần lớn sinh viên trường Đại học Khoa học còn tỏ ra khá thụ động trong quá trình tương tác trên lớp như: “ngại” phát biểu trong giờ học; không dám nói lên ý kiến, ngại tranh luận; nhiều sinh viên vẫn bị động trong hoạt động nhóm, chưa có kỹ năng làm việc nhóm, chưa tự giác và chưa tích cực, chủ động trong giờ học. Xét ở góc độ của triết lý giáo dục, đào tạo tín chỉ là lấy người học làm trung tâm, phát huy tinh thần tự học của sinh viên nhưng qua nghiên cứu đã cho thấy người học vẫn chưa thực sự xem mình là trung tâm của quá trình đào tạo. Thái độ và phương pháp học tập của sinh viên như vậy có thể đáp ứng với yêu cầu của phương thức đào tạo theo tín chỉ hiện nay không? Đó là một câu hỏi đang tiếp tục đặt ra cho các nhà quản lý giáo dục. Tuy nhiên, tính tích cực học tập của sinh viên là một trong những phẩm chất tâm lý có cấu trúc đặc thù và có thể bị thay đổi theo những chiều hướng khác nhau thông qua tác động của các yếu tố có liên quan đến môi trường hoạt động học tập của sinh viên. Vì vậy, việc tối ưu hóa các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của sinh viên trên cơ sở vận dụng các giải pháp quản lý môi trường và quản lý hoạt động đào tạo là cần thiết và có thể khả thi. Do đó, để giúp sinh viên nâng cao tính tích cực, chủ động trong học tập nói chung và kỹ năng tương tác nói riêng, thiết nghĩ, cần phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

* Đối với Trường, Khoa/Bộ môn, Phòng / Ban chức năng

Nhà trường cần đẩy nhanh việc hoàn thiện hệ thống đào tạo theo học chế tín chỉ, thường xuyên tổ chức các buổi trao đổi phương pháp học ở các cấp bậc khác nhau nhằm nâng cao kỹ năng học tập của sinh viên; Các Khoa/Bộ môn cần tăng số lượng các môn học tự chọn, cung cấp thông tin đầy đủ liên quan đến mỗi môn học để sinh viên có thể chủ động linh hoạt xây dựng lộ trình học tập cho mình; Cố vấn học tập cần hoạt động tích cực, năng động, gần gũi hơn với sinh viên để hướng dẫn cho sinh viên hiểu rõ chương trình học, tư vấn cho sinh viên xây dựng một kế hoạch học tập phù hợp với bản thân; Thư viện trường phải nhanh chóng hoàn thiện cơ sở dữ liệu các môn học, phát triển mạnh các sản phẩm và dịch vụ thông tin điện tử, tăng cường chất lượng kho tài liệu phục vụ các chuyên ngành đào tạo hẹp, hướng dẫn sinh viên tra cứu tìm thông tin thành thạo bằng cả phương tiện truyền thống và hiện đại. Ngoài các điều kiện về cơ sở vật chất, khi xem xét các điều kiện phục vụ hoạt động học tập của sinh viên, các nhà quản lý cũng cần quan tâm tới các điều kiện phục vụ, thái độ phục vụ sinh viên của các bộ phận chuyên trách, các chính sách hỗ trợ của nhà trường để tạo cho sinh viên một môi trường học tập tốt nhất.

* Đối với giảng viên:

Giảng viên cần giúp sinh viên tham gia tích cực vào quá trình học, cải thiện sự thụ động bằng cách: Hướng dẫn sinh viên tư duy phản biện, cách suy nghĩ phê phán, suy nghĩ theo lối tích cực, nhìn vấn đề dưới nhiều chiều cạnh. Giúp sinh viên hiểu một cách sâu sắc về mục đích của môn học, từ đó có phương pháp học cũng như thái độ học tập tích cực, phù hợp; Giảng viên cần vận dụng các phương pháp giảng dạy khác nhau tùy vào tình huống cụ thể nhằm phát huy tối đa tính tích cực chủ động và sáng tạo cho sinh viên trong quá trình học tập.

* Đối với bản thân sinh viên

Sinh viên là chủ thể của hoạt động học, là trung tâm của quá trình đào tạo, do đó, để nâng cao tính tích cực, chủ động trong việc xây dựng kế hoạch học tập, sinh viên cần phải: Xác định rõ ràng mục đích và động cơ học tập của mình để không có thái độ buông thả trong quá trình học tập; Thay đổi phương pháp học "truyền thống" là "nghe, chép và học thuộc" bằng cách tích cực tham gia đóng góp xây dựng bài, phát biểu ý kiến hoặc tham gia tranh luận trong nhóm, liên hệ những kiến thức được học với thực tế, hoặc tìm cách áp dụng vào thực tế; Trau dồi những kỹ năng học tập cần thiết, đặc biệt là kỹ năng đọc, lọc thông tin, tra cứu thông tin, kỹ năng làm việc nhóm, thuyết trình; Tăng cường giờ học ở nhà và thư viện; Chủ động trong việc tìm kiếm tài liệu học tập, chuẩn bị bài trước khi đến lớp cũng như tích cực tham gia xây dựng nội dung bài học, các buổi thảo luận và làm việc nhóm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.

[2]. Đào Ngọc Cảnh, Huỳnh Văn Đà, (2012), Nâng cao tính chủ động của sinh viên- giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng trong đào tạo theo học chế tín chỉ, Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, Số 22b, tr.71-79.

[3]. Trần Văn Hiếu (2002), Xây dựng và rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học cho sinh viên, Đề tài Khoa học công nghệ cấp Bộ, Mã số B2000-09-46

[4]. Trần Bá Hoành, Phó Đức Hoà (2003), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn tâm lý giáo dục học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội

[5]. Phan Vĩnh Yên, Đẩy lùi tính thụ động trong học tập, http://www.giaoduc.edu.vn/print_page/top-root-653/day-lui-tinh-thu-dong-trong-hoc-tap-203255.aspx, cập nhật ngày 5/11/2014

[6. Võ Nữ Hải Yến (2015), Thực trạng và giải pháp nâng cao tính chủ động của sinh viên trong đào tạo tín chỉ ở trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.
---

Nguồn ảnh

Ảnh bìa: sinh viên Xã hội học, 2019

Ảnh 1: https://www.uef.edu.vn/_local/uploads//huong%20nghiep%201.jpg

Ảnh 2: https://image.thanhnien.vn/768/uploaded/congthang/2019_06_07/gv_hfvv.jpg