Hoạt động chăm sóc sức khỏe trước sinh của người phụ nữ dân tộc Pako tại xã Hồng Kim, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay

Khoa Xã hội học

Nghiên cứu

Tác giả: Nguyễn Thị Anh Đào (cùng cộng sự) *

05 Tháng Ba, 2020

Hoạt động chăm sóc sức khỏe trước sinh của người phụ nữ dân tộc Pako tại xã Hồng Kim, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay

TÓM TẮT

Chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, nó không chỉ ảnh hưởng tới thế hệ tương lai của đất nước, chất lượng nhân lực, mà còn ảnh hưởng đến đời sống tâm lý, tinh thần của gia đình, đặc biệt là bản thân người phụ nữ. Chính vì vậy mà chăm sóc SKSS cho phụ nữ có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết. Bài viết này nhằm phân tích thực trạng hoạt động chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc Pako tại xã Hồng Kim, huyện A Lưới.

Từ khóa: chăm sóc sức khoẻ trước sinh, phụ nữ dân tộc pako

1. Đặt vấn đề

Phụ nữ luôn đóng một vai trò quan trọng không những trong đời sống gia đình mà còn trong đời sống xã hội, là cơ sở cho một cuộc sống bền vững và hạnh phúc. Đặc biệt, chức năng sinh sản của phụ nữ được coi là một giá trị trường tồn từ cổ chí kim loài người cho đến nay.

Hệ thống chăm sóc SKSS của xã Hồng Kim, huyện A Lưới đang dần được quan tâm, chú trọng hơn trước. Tuy nhiên, vấn đề chăm sóc thai nghén, chế độ bồi dưỡng, nghĩ ngơi, lao động của phụ nữ trước sinh còn sơ sài, chưa phù hợp, thiếu khoa học. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của mẹ và bé.

2. Khái niệm công cụ

2.1. Sức khỏe sinh sản

Sức khỏe sinh sản (SKSS) được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. SKSS là một phần quan trọng của sức khỏe, gắn với toàn bộ cuộc đời của con người, từ lúc bào thai đến khi tuổi già. SKSS quan tâm đến các vấn đề của bộ máy sinh sản nam nữ ở mọi lứa tuổi, đặc biệt chú trọng đến tuổi vị thành niên và độ tuổi sinh sản (15-49).

Hội nghị quốc tế và Dân số phát triển họp tại Cai rô – Ai Cập năm 1994 đã đưa ra định nghĩa về SKSS: “Sức khỏe sinh sản là một trạng thái khỏe mạnh, hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống, chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản”[4].

Sức khỏe sinh sản (SKSS) là một trạng thái hoàn hảo về mặt thể chất, tinh thần và xã hội trong mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản.

2.2. Chăm sóc trước sinh

Chăm sóc bà mẹ trước sinh là những chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai đến trước khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con khỏe mạnh.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: “Chăm sóc trước sinh là một hay nhiều lần khám thai trong thời kì mang thai bởi người đã được đào tạo” [5]. Nó chỉ được chăm sóc thường xuyên cho tất cả phụ nữ có thai, hoặc chỉ ở mức độ chăm sóc về mặt cuộc sống cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và sinh nở. Chăm sóc trước sinh có tác dụng phát hiện và điều trị và phòng tránh được một số bệnh có tính chất mãn tính như thiếu máu, cao huyết áp, nhiễm khuẩn,…

Thời kỳ trước sinh được tính từ bắt đầu có thai đến trước khi có dấu hiệu chuyển dạ, trung bình kéo dài 38-40 tuần. Đây là thời kỳ rất quan trọng, không những có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe bản thân bà mẹ mà còn ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thai nhi. Vì vậy bà mẹ cần nắm đầy đủ những kiến thức cơ bản để tự chăm sóc sức khỏe chăm sóc bản thân cũng như thai nhi.

3. Hoạt động chăm sóc sức khỏe trước sinh của phụ nữ dân tộc Pako

Chăm sóc sức khỏe trước sinh cho phụ nữ là công việc hết sức quan trọng, đảm bảo cho bà mẹ và thai nhi được khỏe mạnh. Nội dung chăm sóc trước sinh bao gồm: sự chuẩn bị về tâm lý, tài chính, và sức khỏe; khám thai định kỳ; tiêm phòng các loại vắc xin; nhận diện những dấu hiệu nguy hiểm thai nghén,… Tuy nhiên trong bài báo này chỉ tập trung phân tích, tìm hiểu sự chuẩn bị kiến thức trước khi mang thai của phụ nữ và việc khám thai; nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm của thai kỳ.

3.1. Kiến thức chuẩn bị trước khi mang thai của phụ nữ

Nhằm chuẩn bị sức khỏe cho thai phụ và đón một em bé chào đời khỏe mạnh, phụ nữ mang thai cần trang bị những kiến thức cần thiết như chế độ dinh dưỡng, lịch tiêm phòng, cách nghỉ ngơi, lao động hợp lý… Đây là những kiến thức rất quan trọng đối với phụ nữ mang thai.

Kết quả khảo sát tại địa bàn cho thấy, có 68.6 % phụ nữ dân tộc Pako trong mẫu khảo sát đã có kiến thức chăm sóc sức khỏe khi mang thai và 31.45% phụ nữ không có kiến thức về vấn đề này. Điều này thật đáng lo ngại bởi nếu không được trang bị kiến thức về việc chăm sóc sức khỏe trước sinh sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ trong quá trình mang thai. Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy, số phụ nữ có kiến thức về chăm sóc sức khỏe trước khi mang thai có hiểu biết còn hạn chế và mơ hồ: “Kiến thức về chăm sóc khi mang thai chị có biết sơ sơ, có đọc sách, xem điện thoại rồi họ bày rứa, mấy dì trên trạm xá cũng bày”. (PVS số 1, 27 tuổi, thôn Đút 1).

Theo kết quả khảo sát về những kiến thức cần chuẩn bị trước khi mang thai thì tỷ lệ phụ nữ không “không chuẩn bị” khá cao (chiếm 34.3 %), một phần phụ nữ đã có sự chuẩn bị kiến thức về “tiêm phòng” (38.6%), “chế độ dinh dưỡng” (30.0%). Việc đi khám, kiểm tra sức khỏe trước khi quyết định mang thai là hết sức quan trọng, tuy nhiên trên địa bàn lại rất ít phụ nữ biết đến “kiểm tra sức khỏe” chỉ (chiếm 20.00%), “bổ sung thuốc bổ” ít được quan tâm (chiếm 12.9 %)

Biểu đồ 1: Tỷ lệ các kiến thức được chuẩn bị trước khi mang thai

Kết quả biểu đồ 1 cho thấy, những kiến thức cần được chuẩn bị trước lúc mang thai là: “tiêm phòng” (38.6 %); chế độ dinh dưỡng (30 %) và “kiểm tra sức khỏe” (chiếm 20 %). Số liệu này cho thấy, phụ nữ dân tộc PaKô trên địa bàn đã có sự tìm hiểu về các kiến thức tiêm chủng hay các chế độ dinh dưỡng, tuy nhiên còn chiếm tỷ lệ thấp. Bên cạnh đó, con số đáng báo động đó là số phụ nữ không chuẩn bị kiến thức gì lại chiếm tỷ lệ khá cao (chiếm 34.3 %). Nguyên nhân không có sự chuẩn bị là do bản thân họ cảm thấy không cần thiết và chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc chuẩn bị các kiến thức trên: “Khi mang thai mẹ cũng không có kiến thức, không chuẩn chi cả, ông bà xưa hồi giờ có chuẩn bị gì đâu mà vẫn bình thường vậy, có thai thì có thôi” (PVS, nữ 47 tuổi, thôn Đút1).

Đối với việc trang bị kiến thức chăm sóc SKSS thì vai trò của các nguồn thông tin là rất quan trọng. Tại địa bàn khảo sát, kết quả nghiên cứu chỉ rõ: nguồn cung cấp kiến thức chủ yếu cho phụ nữ ở đây là từ “cán bộ dân số - y tế xã” (chiếm 64.6 %); nguồn cung cấp thông tin thứ hai từ bên ngoài đó là từ “gia đình, người thân” (29.2 %). Bên cạnh đó, điều đáng mừng là phụ nữ cũng đã ý thức hơn trong việc tự tìm hiểu các thông tin, kiến thức chăm sóc sức khỏe khi mang thai qua việc chủ động “tự tìm hiểu qua các phương tiện truyền thông” (43.8%). Đặc biệt, một vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ lại chưa thấy được vai trò cung cấp thông tin từ Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình

Biểu đồ 2: Tỷ lệ các nguồn cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe khi mang thai

Kết quả khảo sát cho thấy, tại địa bàn nghiên cứu, vai trò của cán bộ dân số-y tế xã khá cao trong việc cung cấp các kiến thức. Bên cạnh đó, gia đình, người thân cũng là nguồn cung cấp kiến thức mà nhiều phụ nữ nhận được, mặc dù không được đánh giá cao như cán bộ dân số - y tế xã nhưng đây cũng được xem là nguồn kiến thức dễ tiếp cận của phụ nữ, kiến thức ở đây chủ yếu từ những người đã trãi qua sinh nở như các bà, các mẹ, chị em, …họ truyền đạt lại thông qua truyền miệng hay những thực hành trong đời sống.

  • “Ở đây, có thai đi lên trạm xá khám, các cô trên đó họ báo khi nào tới khám lại, tiêm thuốc hay uống thuốc thì mình làm theo thôi”. (PVS số 4, Nữ 23 tuổi, thôn Đút 2)
  • “Chị tự lên mạng xem, rồi mẹ chị với bên nhà chồng họ bày vẹ chứ khi mới cưới về có biết chi đâu em”. (PVS số 1, Nữ 27 tuổi, thôn Đút 1)

[ Hộp 1: Hộp kiến thức chuẩn bị trước khi mang thai
]

3.2. Khám thai và nhận biết các dấu hiệu thai nghén bất thường

Khám thai là việc làm rất cần thiết để theo dõi quá trình mang thai và kịp thời phát hiện các bệnh tiềm ẩn, từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời nhằm hạn chế các biến chứng thai nhi và tránh để lại di chứng cho thai phụ.

Trong số 70 phụ nữ được hỏi về việc khám thai có 62 người đi khám thai (chiếm 88.6%) chiếm tỷ lệ cao, 8 người không đi khám thai (chiếm 11.4%). Kết quả cho thấy phụ nữ trên địa bàn đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đi khám thai. Họ cho rằng đi khám thai sẽ an toàn hơn, và thật sự rất quan trọng.

  • “Phải đi khám thai chứ em, ở nhà biết chi được. Mang thai đứa mới đây chị đi khám trên bênh viện huyện ấy, 3 lần” (PVS, Nữ 27 tuổi, thôn Đút 1)
  • “Chị đi khám thai đều đặn hơn 3 lần á em, chị đi khám ở bệnh viện trên thị trấn ấy, phải đi khám cho nó an toàn” (PVS, Nữ 27 tuổi, thôn Đút 1)

[ Hộp 2: Khám thai của phụ nữ
]

Mặc dù vậy, vẫn còn một số phụ nữ không đi khám thai, đây là một trong những thiệt thòi và có thể dẫn tới những ảnh hưởng đến thai phụ. Kết quả dữ liệu cho thấy, những phụ nữ không đi khám thai chủ yếu đã lớn tuổi, thuộc diện hộ nghèo và mù chữ. Họ quan niệm thấy cơ thể khỏe mạnh, ăn ngủ tốt nên bỏ qua việc đi khám, một số không đi khám vì hiểu biết về chăm sóc SKSS còn hạn chế, cho rằng sinh đẻ là việc bình thường: “Mẹ không đi khám thai, hồi chừ có biết đi khám chi mô”. (PVS, Nữ 47 tuổi, thôn Đút 1)

Nơi khám thai của phụ nữ cũng là một yếu tố hết sức quan trọng, các điều kiện cơ sở vật chất hạ tầng, nhân lực có tay nghề kỹ thuật sẽ góp phần đảm bảo chất lượng khám thai của phụ nữ.

Kết quả xử lý số liệu cho thấy, địa điểm phụ nữ trong mẫu khảo sát chọn đến khám và theo dõi thai kỳ tại “trạm y tế” nhiều nhất (chiếm 86.9%). Hầu hết phụ nữ đến trạm y tế để khám vì đây là một trong những nơi cung cấp dịch vụ khám thai, chăm sóc sức khỏe ban đầu gần gũi và thuận tiện nhất đối với họ.

Địa điểm thứ hai được phụ nữ chọn thăm khám lúc mang thai đó là “bệnh viện huyện” (16.4%). Mặc dù khoảng cách từ xã Hồng Kim lên thì trấn cũng tương đối xa nhưng vẫn có nhiều phụ nữ đã đến bệnh viện huyện để khám. Tuy nhiên việc đi lại khá xa trong thời gian thai kỳ sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của thai phụ. Vì vậy, nếu tăng cường chất lượng khám thai tại trạm y tế xã sẽ thuận tiện hơn cho phụ nữ và góp phần quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng chăm sóc sức khỏe trước sinh cho phụ nữ khi mang thai, góp phần giảm tỷ suất tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh do các nguy cơ tai biến sản khoa.

Số liệu biểu đồ 3 cũng cho thấy, phương án “phòng khám tư nhân” (3.2%) có tỷ lệ thấp nhất. Điều này có thể lý giải, điều kiện kinh tế của phụ nữ dân tộc Pako còn nhiều khó khăn nên việc đến các phòng khám tư nhân không phải là địa điểm mà phụ nữ dân tộc nào cũng có thể đến khám được do kinh phí đắt hơn nhiều so với các cơ sở y tế của Nhà nước. Vai trò của mụ vườn xưa nay vốn được xem là quan trọng với phụ nữ dân tộc thì giờ đây đã dần mất đi.

Biểu đồ 3: Địa điểm khám thai của phụ nữ

Không chỉ dừng lại ở việc khám thai, nơi khám thai, mà việc đi khám thai đúng, đủ số lần cũng rất quan trọng. Ở Việt Nam, phụ nữ mang thai được khuyến cáo đi khám thai ít nhất 3 lần, trong cả 3 thời kỳ mang thai, việc khám thai đầy đủ giúp thai phụ có thể theo dõi sức khỏe của mẹ và con trong suốt thai kỳ.

Trong tổng số phụ nữ trong mẫu khảo sát đã đi khám thai, có 36 phụ nữ đã khám thai đúng và đủ “3 lần” (chiếm 58.1%), đặc biệt, có 12 phụ nữ đã khám thai “trên 3 lần” (chiếm 19.4%). Tuy nhiên, trong đó có đến 22.6 % phụ nữ mới chỉ khám thai “2 lần” và “1 lần”.

Từ việc khám thai và theo dõi quá trình thai nghén, thai phụ sẽ được chia sẽ về các dấu hiệu thai nghén bất thường có thể xảy ra. Bất kỳ những thay đổi nào của người mẹ đều có ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển của thai nhi. Sáu dấu hiệu bất thường liên quan đến thai nghén trong thời kì đầu có thể gây nguy hiểm cho người phụ nữ đã được mô tả ở dưới biểu đồ. Việc nhận biết được các dấu hiệu nguy hiểm này rất quan trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của mẹ và bé. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy vẫn còn rất nhiều (48.6%) phụ nữ chưa nhận biết được những dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai. Những dấu hiệu mà các bà mẹ nhắc tới nhiều là “đau bụng dữ dội” (35.7%), tiếp đến là “sốt, co giật, đau đầu” và “ra máu nhiều” chiếm tỷ lệ lần lượt là (24.3%), (24.3%). Đa số phụ nữ nhận biết được các dấu hiệu như đau bụng, sốt, co giật hay đau đầu vì đây là những dấu hiệu dễ nhận thấy trong sinh hoạt hằng ngày, tuy nhiên những dấu hiệu nhiễm độc của thai nghén như “phù mặt, tay chân” và “đái buốt, đái rắt” thì hầu như các bà mẹ không quan tâm nhiều và không được các bà mẹ kể đến.

Biểu đồ 4: Nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm thai nghén bất thường

Kiến thức nhận biết các dấu hiệu thai nghén bất thường rất quan trọng, phụ nữ khi mang thai cần nắm rõ để có thái độ xử trí phù hợp. Tránh rơi vào các trường hợp đáng tiếc như sẩy thai hoặc biến chứng tới thai. Tuy vậy, sự hiểu biết các dấu hiệu thai nghén của phụ nữ ở đây còn hạn chế, đặc biệt số phụ nữ không biết dấu hiệu nào cũng rất cao. Kết quả trên đã phản ánh phần nào về sự thiếu xót và chưa đồng bộ trong công tác giáo dục sức khỏe cho phụ nữ khi mang thai tại địa bàn: “Dấu hiệu nguy hiểm trong thai nghén thì chắc là đau bụng hay ra máu nhiều, chị thì không bị nhiều nên không đi khám vì thấy nó cũng không ảnh hưởng gì, nhưng nếu nặng quá thì phải đi khám ở trạm xá. Cũng ít nghe mấy triệu chứng ni”. (PVS Số 1, nữ 27 tuổi, thôn Đút 1)

Có thể nói, việc khám thai của phụ nữ dân tộc PaKô trên địa bàn đã có chuyển biến tích cực, cùng với sự hỗ trợ của BHYT thì hầu hết phụ nữ trong mẫu khảo sát đã đến khám thai tại các bệnh viện huyện hay trạm y tế xã. Bên cạnh đó, một số phụ nữ không đi khám thai và khám chưa đủ số lần. Hiểu biết về những dấu hiệu thai nghén bất thường của phụ nữ còn quá hạn chế, thiếu thông tin và kiến thức về dấu hiệu thai nghén là tình hình mà phụ nữ ở trên địa bàn xã đang gặp phải.

4. Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Việc chuẩn bị kiến thức chăm sóc sức khỏe trước sinh: Tỷ lệ phụ nữ chưa có kiến thức và sự chuẩn bị trước sinh còn khá cao. Đây là sự thiếu hụt thông tin, kiến thức của một số phụ nữ dân tộc trên địa bàn xã. Nguồn cung cấp thông tin về chăm sóc sức khỏe khi mang thai của phụ nữ chủ yếu đến từ cán bộ y tế, các phương tiện truyền thông và gia đình, người thân, chưa thấy được vai trò của Trung tâm DS – KHH GĐ.

Các dấu hiệu thai nghén bất thường: Hiểu biết về những dấu hiệu thai nghén bất thường của phụ nữ còn quá hạn chế, thiếu thông tin và kiến thức về dấu hiệu thai nghén là tình hình mà phụ nữ ở trên địa bàn xã đang gặp phải. Kết quả trên đã phản ánh phần nào về sự thiếu xót và chưa đồng bộ trong công tác giáo dục sức khỏe cho phụ nữ khi mang thai tại địa bàn nghiên cứu.

Việc khám thai: của phụ nữ dân tộc PaKô trên địa bàn đã có chuyển biến tích cực, cùng với sự hỗ trợ của BHYT thì hầu hết phụ nữ trong mẫu khảo sát đã đến khám thai tại các bệnh viện huyện hay trạm y tế xã. Tuy nhiên, vẫn còn một số phụ nữ không đi khám thai và khám chưa đủ số lần.  

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ y tế (2000), chuyên mục sức khỏe sinh sản, tạp chí Bác sĩ gia đình

[2]. Bộ y tế và UNFPA (2016), Báo cáo hội thảo quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản

[3]. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2018, Uỷ ban nhân dân xã Hồng Kim, Số 69/BC-UBND

[4]. Lan Chi (2016), Nỗ lực giảm tử vong mẹ và trẻ sơ sinh http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=74&NewsId=377308 cập nhập ngày 26/03/2019

[5]. Thư viện y học, Sinh lý chuyển dạ - phác đồ Bộ Y tế (2015)

https://thuvienyhoc.com/tai-lieu/sinh-ly-chuyen-da-bo-y-te/ cập nhập ngày 29/04/2019.

---

(*) ThS. Nguyễn Thị Anh Đào, giảng viên khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học, Đại học Huế |
ruby08082011@yahoo.com.vn

Trần Thị Thu Thảo - XHH K39

---

Nguồn ảnh bìa:

Tác giả: nhiếp ảnh gia người Pháp Réhahn Croquevielle

https://icdn.dantri.com.vn/k:756edd3768/2016/09/03/rhahn-hopes-to-become-a-voice-for-the-people-of-these-tribes-as-well-as-a-mirror-1472890208393/chumanhtuyetdepvecacdantocvietnamtrenbaonuocngoai.jpg

---

Media Team, Sociology Hue - HUSC

Editor: Tuấn Long | tuanlong.dhkh@gmail.com