Nhận thức và hành vi tình dục an toàn của học sinh [...]

Khoa Xã hội học

Nghiên cứu

Tác giả: Tư Hậu & Võ Thị Hiền (*)

06 Tháng Bảy, 2019

Nhận thức và hành vi tình dục an toàn của học sinh [...]

Tên bài viết đầy đủ:

" Nhận thức và hành vi tình dục an toàn của học sinh trường Trung học Phổ thông Đỗ Đăng Tuyển, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam hiện nay "

TÓM TẮT

Tình dục an toàn là tình dục không dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục như: lậu, giang mai, HIV/AIDS...[5]. Để có tình dục an toàn phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành vi tình dục của con người.

Nhận thức của học sinh THPT Đỗ Đăng Tuyển về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) trong một số nội dung là khá cao. Đa số các em có quan điểm đúng về một số hành vi có nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD khi cho rằng những hành vi đó chắc chắc sẽ dẫn đến nguy cơ mắc bệnh. Tuy nhiên để hiểu sâu về các bệnh LTQĐTD thì nhận thức của các em còn hạn chế. Hành vi tình dục an toàn của học sinh THPT Đỗ Đăng Tuyển cho thấy, tỷ lệ học sinh có người yêu cao, nhưng tỷ lệ đã từng quan hệ tình dục (QHTD) thấp. Đối với những học sinh đã QHTD đa số biết sử dụng biện pháp tránh thai khi có QHTD. Tuy nhiên tỷ lệ học sinh sử dụng BPTT nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm bệnh LTQĐTD và mang thai ngoài ý muốn không cao.

Từ khóa: Bệnh lây truyền qua đường tình dục, Học sinh, Tình dục an toàn.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tình dục là một nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người. Nhu cầu đó cũng cần thiết như những nhu cầu khác (ăn, uống, ở, ngủ…) và là một phần làm cho cuộc sống con người hạnh phúc hơn. Nhưng điều đó chỉ đúng khi chúng ta có tình dục an toàn và lành mạnh.

Tình dục an toàn là tình dục không dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục như: lậu, giang mai, HIV/AIDS...[5]. Như vậy, để có tình dục an toàn sẽ phụ thuộc vào nhận thức và hành vi tình dục của con người.

Năm 2016, hãng bao cao su Durex đã công bố độ tuổi trung bình quan hệ tình dục (QHTD) lần đầu của 44 nước trên thế giới, trong đó đáng chú ý độ tuổi trung bình QHTD đầu tiên Việt Nam là 19.7 và ở Mỹ là 18 tuổi [3]. Bên cạnh đó, theo Hội Kế hoạch hóa gia đình thì hiện nay tỷ lệ phá thai ở trẻ vị thành niên (VTN) Việt Nam ngày càng tăng cao. Nếu như số ca nạo phá thai ở trẻ VTN năm 2000 chỉ chiếm khoảng 5 đến 7% trong tổng số ca phá thai, thì đến năm 2017 là 20%, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có tỷ lệ trẻ VTN phá thai cao nhất ở các nước Đông Nam Á [4].

Image source: https://image.plo.vn/Uploaded/2019/cqjwqcdwp/2014_06_06/12-biem_wssp.jpg (ảnh chỉ mang tính minh họa)

Trong khi đó, theo số liệu mới nhất của Trung Tâm Phòng Chống Dịch Bệnh (CDC) của chính phủ Mỹ, tỷ lệ nạo phá thai ở Hoa Kỳ giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử, chỉ có 12.1 ca phá thai trên 1.000 người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ vào năm 2014, so với 19.4 trường hợp nạo phá thai trên 1.000 người phụ nữ vào năm 2008. Tỷ lệ nạo phá thai giảm mạnh nhất diễn ra ở độ tuổi vị thành niên là 46% [1]. Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù ở Mỹ độ tuổi trung bình QHTD lần đầu sớm hơn Việt Nam (18 tuổi so với 19.2 tuổi) nhưng tỷ lệ nạo phá thai ở Mỹ có xu hướng giảm mạnh trong những năm gần đây, ngược lại ở Việt Nam có xu hướng ngày tăng cao. Điều này đã phản ánh thực tế, ở Việt Nam trẻ VTN chưa được trang bị đầy đủ các kiến về chăm sóc SKSS.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây ngành giáo dục đã đẩy mạnh hoạt động chăm sóc SKSS VTN nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khóa trong các trường học. Tuy nhiên, liệu điều này có mang lại hiệu quả như mong muốn? Liệu học sinh đã thực sự được trang bị những kiến thức và kỹ năng về tình dục an toàn? Nội dung dưới đây sẽ trình bày về nhận thức và hành vi tình dục an toàn của học sinh trường THPT Đỗ Đăng Tuyển, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, hi vọng sẽ góp phần trả lời những câu hỏi trên.

Bài viết này sử dụng một phần số liệu được khảo sát trong đề tài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Xã hội học: “Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi tình dục an toàn của học sinh trường trung học phổ thông Đỗ Đăng Tuyển, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam hiện nay” do sinh viên Võ Thị Hiền thực hiện [2]. Số liệu được khảo sát từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018. Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính và có 120 học sinh tham gia trả lời phỏng vấn trong cuộc nghiên cứu này.

2. NỘI DUNG

2.1. Nhận thức của học sinh về tình dục an toàn

Do tình dục là vấn đề nhạy cảm và thường được xét đoán theo các quan niệm chủ quan của mỗi người do không có các quy định chuẩn mực một cách rõ ràng và chính thống về tình dục. Hiểu rõ khái niệm tình dục an toàn và các nội dung tình dục an toàn sẽ giúp học sinh xem xét mối quan hệ tình cảm của mình một cách đúng đắn và biết cách bảo vệ bản thân mình khi có QHTD. Trong phần này sẽ cho chúng ta thấy được mức độ hiểu biết của học sinh về khái niệm và hành vi tình dục an toàn, nhận thức của các em học sinh về các bệnh LTQĐTD, nhận thức của học sinh về QHTD và mang thai ngoài ý muốn.

2.1.1. Hiểu biết của học sinh về khái niệm tình dục an toàn

Để đánh giá đúng mức độ hiểu biết của học sinh về khái niệm “tình dục an toàn” chúng tôi đã đưa ra một số nhận định liên quan đến các hành vi hạn chế nguy cơ mang thai ngoài ý muốn và bệnh LTQĐTD.việc sử dụng các BPTT. Trong số 5 nhận định có 3 nhận định không đúng và 2 nhận định đúng, học sinh sẽ lựa chọn “đồng ý” hay “không đồng ý” hoặc “khó trả lời” đối với từng nhận định.

Bảng 1: Hiểu biết của học sinh về hành vi tình dục an toàn

(Nguồn: Xử lý số liệu tháng 4/2018)

Nhìn vào bảng 1 cho thấy, trong tổng số 120 học sinh tham gia trả lời câu hỏi này có 85.8% (n=103 ) học sinh đồng ý với nhận định đúng “sử dụng bao cao su đúng cách khi QHTD là biện pháp phòng tránh các bệnh LTQĐTD và mang thai ngoài ý muốn”. Nhưng vẫn còn một số học sinh “không đồng ý” và “khó trả lời” chiếm 14.2% (n=17). Tương tự đối với nhận định đúng “sử dụng các BPTT khi QHTD sẽ có thể phòng tránh mang thai ngoài ý muốn” có 81.7% (n= 98) học sinh “đồng ý”. Nhưng vẫn còn một số học sinh “không đồng ý” và “khó trả lời” chiếm 18.3% (n=22).

Trong câu hỏi này, ngoài những nhận định liên quan đến hành vi sử dụng bao cao su hoặc các BPTT trong QHTD để tìm hiểu nhận thức của học sinh thì tác giả cũng đã đưa ra 2 nhận định sai nhưng đây lại là hành vi được ngộ nhận phổ biến trong giới học sinh thông qua các kênh truyền thông liên cá nhân. Kết quả cho thấy, mặc dù tỷ lệ học sinh “không đồng ý” cao nhưng tỷ lệ “đồng ý” và “khó trả lời” vẫn còn nhiều. Cụ thể, có đến 15% (n=18) học sinh “khó trả lời” và 7.5% (n=9) “đồng ý” đối với nhận định “vệ sinh bộ phận sinh dục sạch sẽ ngay sau khi quan hệ có thể tránh thai” và 20% (n=24) học sinh “khó trả lời”, 4.2% (n=5) học sinh “đồng ý” đối với nhận định “đi tiểu ngay sau khi QHTD có thể tránh thai” có 20% (n=24).


Image source: https://img.khoai.tv/images/movies/21367/bg_01_slu33184.jpg (ảnh chỉ mang tính minh họa)

Đặc biệt, trong tổng số 120 học sinh tham gia trả lời câu hỏi này có đến 91 học sinh (chiếm 75.9%) tin rằng“sử dụng các BPTT khi QHTD sẽ phòng tránh các bệnh LTQĐTD”. Số liệu này phản ánh thực tế nhóm học sinh trong mẫu nghiên cứu chưa có kiến thức đầy đủ về “tình dục an toàn”. Bởi vì, nếu quan hệ tình dục an toàn thì có thể không mang thai ngoài ý muốn và lây các bệnh qua đường tình dục. Tuy nhiên, không phải BPTT nào cũng có thể hạn chế nguy cơ lây các bệnh qua đường tình dục. Chỉ khi QHTD có sử dụng bao cao su đúng cách mới đảm bảo phòng tránh mang thai ngoài ý muốn và bệnh LTQĐTD. Số liệu này có thể xuất phát từ sự nhầm lẫn của học sinh khi không đọc kỹ câu hỏi, cũng có thể là học sinh thực sự hiểu sai lệch. Dù là do nguyên nhân nào đi chăng nữa, kết quả đã phản ánh phần nào kiến thức về tình dục an toàn của học sinh chưa chắc chắn.

Từ những số liệu và phân tích trên, chúng tôi có thể khẳng định rằng, mức độ hiểu biết của học sinh trong mẫu nghiên cứu này về khái niệm “tình dục an toàn” là chưa đầy đủ và chính xác.

2.1.2. Nhận thức của học sinh về các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 250 triệu trường hợp bị nhiễm các bệnh LTQĐTD. Trong số này chiếm tỷ lệ cao nhất thuộc nhóm tuổi 20 - 24, đứng thứ 2 thuộc nhóm tuổi từ 15 - 19. Vì vậy để có thể phòng tránh được các bệnh LTQĐTD thì học sinh cần phải có những hiểu biết cơ bản về các bệnh LTQĐTD, qua đó có thể tự phòng tránh cho bản thân và phòng tránh lây lan cho xã hội. Trong phần này chúng tôi sẽ đề cập đến 2 nội dung chính: hiểu biết của học sinh về thông tin liên quan đến các bệnh LTQĐTD và hiểu biết của học sinh về các loại bệnh và những hành vi dẫn đến nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD.

Để có thể đo lường mức độ hiểu biết của học sinh đối với các thông tin liên quan đến các bệnh LTQĐTD, chúng tôi đã đưa ra 6 thông tin: các loại bệnh, biểu hiện của bệnh, nguyên nhân gây bệnh, hậu quả khi mắc bệnh, cách phòng tránh bệnh và cách chữa trị bệnh. Học sinh sẽ lựa chọn “biết rõ” hay “đã từng nghe” hoặc “không biết” đối với từng thông tin.

Kết quả xử lý số liệu định lượng cho thấy, đối với nguyên nhân gây bệnh LTQĐTD thì có 72.5% (n=87) học sinh trả lời biết rõ, 23.3% (n=28) trả lời đã từng nghe và có 4.2% (n=5) là không biết. Các em học sinh có mức độ hiểu biết về nguyên nhân gây ra bệnh LTQĐTD khá cao, hầu như các em đã được tìm hiểu về nguyên nhân gây bệnh, một số đã từng nghe đến, tỷ lệ không biết chiếm tỷ lệ rất thấp. (xem bảng 2)

Bảng 2: Mức độ hiểu biết của HS đối với các thông tin liên quan đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục

(Nguồn: Xử lý số liệu tháng 4/2018)

Về hậu quả khi mắc bệnh LTQĐTD thì có 75.8% (n=91) học sinh là biết rõ. Cho thấy, mức độ hiểu biết về hậu quả khi mắc bệnh LTQĐTD cũng khá cao, tuy nhiên tỷ lệ không biết về vấn đề này vẫn còn nhiều (20%).

Đối với thông tin về các loại bệnh LTQĐTD, biểu hiện của bệnh LTQĐTD, cách phòng tránh bệnh LTQĐTD, cách chữa trị bệnh LTQĐTD thì đa số các em mới đã từng nghe và không biết. Điển hình như “biểu hiện của bệnh LTQĐTD” có đến 80% (n=96) không biết.

Như vậy, đối với các thông tin liên quan đến bệnh LTQĐTD thì mức độ hiểu biết của học sinh về các thông tin khác nhau và không đồng đều. Tỷ lệ học sinh “biết rõ” nguyên nhân và hậu quả của bệnh LTQĐTD cao nhưng lại thiếu kiến thức – “không biết” về “biểu hiện của bệnh” và“cách chữa trị bệnh”. Trong khi đó đối với thông tin “các loại bệnh” và “cách phòng tránh bệnh” đa số học sinh cho biết “đã từng nghe”. Chính sự hiểu biết không đầy đủ này sẽ tác động rất lớn đến kỹ năng chăm sóc SKSS của học sinh nói chung và hành vi tình dục an toàn nói riêng.

Mức độ hiểu biết của học sinh đối với thông tin liên quan đến bệnh LTQĐTD vẫn còn thấp ở một số nội dung như: các loại bệnh, biểu hiện của bệnh, cách phòng tránh bệnh và cách chữa trị bệnh là yếu tố tác động đến nhu cầu của học sinh về thông tin này. Bởi vì, chỉ khi nào học sinh có nhu cầu thì khi đó các em mới có sự hứng thú để tìm hiểu và tiếp nhận những thông tin liên quan đến vấn đề đó. Khi được hỏi “Bạn có nhu cầu thông tin liên quan đến các bệnh LTQĐTD không?” thì có đến 85% (n=102) học sinh trả lời “có” và có 15% (n=18) học sinh trả lời là “không”. Điều đó chứng tỏ hầu hết học sinh đang thiếu các thông tin liên quan đến các bệnh LTQĐTD và mong muốn được cung cấp thông tin.

Để đánh giá đúng nhận thức của học sinh về các bệnh LTQĐTD, chúng tôi còn đo lường mức độ hiểu biết của học sinh đối với một số bệnh LTQĐTD phổ biến hiện nay. Với 7 loại bệnh, học sinh sẽ trả lời “biết rõ” hay “đã từng nghe” hoặc “không biết” đối với từng bệnh. Kết quả được thể hiện ở bảng 3.

Bảng 3: Mức độ hiểu biết của học sinh về các loại bệnh lây truyền qua đường tình dục

(Nguồn: Xử lý số liệu tháng 4/2018)

Qua bảng 3 cho thấy, bệnh HIV/AIDS là căn bệnh học sinh biết rõ nhất với 42.5% (n=51), nhưng vẫn còn số lượng lớn học sinh chỉ mới “đã từng nghe” và “không biết” với tỷ lệ là 57.5% (n=69). Còn lại đối những bệnh khác như: bệnh lậu, giang mai, sùi mào gà, mụn sinh dục, viêm niệu đạo, viêm cổ tử cung thì đa số các em học sinh trong nhóm nghiên cứu chỉ mới “đã từng nghe” và “không biết”. Thông tin từ PVS cũng cho thấy: “Em đã từng học về bệnh HIV/AIDS hồi cấp 2, trong môn gì đó em không nhớ rõ, nhưng chắc chắn là đã được học rồi. Em có nghe qua bệnh sùi mào gà, tuy nhiên chưa biết rõ lắm. Còn lại những bệnh khác em nghe lạ lắm”. (Học sinh, nam, lớp 10/8).

Từ kết quả xử lý số liệu định lượng và định tính, cho thấy mức độ hiểu biết của học sinh về một số bệnh LTQĐTD phổ biến hiện nay là rất thấp, hầu như các em chỉ mới nghe nói đến nhưng chưa có kiến thức về các bệnh LTQĐTD. Điều này rất ảnh hưởng đến hành vi tình dục của các em sau này. Các em sẽ không nhận thức được sự nguy hiểm của các căn bệnh cũng như những biểu hiện của nó trong cuộc sống hằng ngày, từ đó không thể đưa ra được biện pháp phòng tránh để bảo vệ bản thân mình.

Một trong những nội dung quan trọng liên quan đến bệnh LTQĐTD cần phải quan tâm đó là “hành vi có nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD”. Để hiểu rõ nhận thức của học sinh về hành vi dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh LTQĐTD, chúng tôi đã đưa ra 9 nhận định. Học sinh sẽ lựa chọn “chắc chắn”, “có thể” hay “không” hoặc “không biết” đối với từng nhận định. Thông tin thu được từ phương pháp nghiên cứu định lượng như sau:

Bảng 4. Nhận thức của học sinh về hành vi dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh TQĐTD

(Nguồn: Xử lý số liệu tháng 4/2018)

Nhìn bảng 4 cho thấy, trong tổng số 120 học sinh tham gia trả lời câu hỏi này có 90% (n=108) học sinh chắc chắn hành vi “hai người QHTD bằng âm đạo, không sử dụng bao cao su” sẽ có nguy cơ dẫn đến các bệnh LTQĐTD.

Từ bảng số liệu trên ta thấy có 90% (n=108) chắc chắn hành vi “hai người QHTD bằng âm đạo, không sử dụng bao cao su” sẽ có nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD và 10% (n=12) cho là “có thể”. Đối với hành vi “hai người QHTD bằng hậu môn, không sử dụng bao cao su” thì có 93.3% (n=112) trả lời chắc chắn và có thể dẫn đến mắc bệnh LTQĐTD. Có 90.8% (n=109) cho rằng hành vi “QHTD với nhiều người” “chắc chắn” và “có thể” sẽ có nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD. Cho thấy nhận thức của các em về một số nhận định về các hành vi có nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD là khá cao. Tuy nhiên, có một số học sinh cho rằng “không” và “không biết”. Còn đối với những hành vi khác thì tỷ lệ cho rằng “có thể” cũng chiếm tỷ lệ cao. Tuy nhiên, tỷ lệ cho rằng những hành vi đó không có nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD và “không biết” tỷ lệ cũng rất cao.

Từ các số liệu trên ta thấy các em học sinh có nhận thức tốt khi đa số cho rằng hành vi “hai người QHTD bằng âm đạo, không sử dụng bao cao su” và có “QHTD với nhiều người” thì chắc chắn mắc bệnh LTQĐTD. Tuy nhiên đa số các em còn đang rất phân vân trong sự lựa chọn của mình. Đối với những hành vi sử dụng chung khăn tắm, đồ lót; hai người mặc quần áo, ôm hôn nhau; hai người không mặc quần áo, ôm hôn nhau; hai người dùng tay sờ bộ phận sinh dục của nhau; hai người QHTD bằng miệng thì tỷ lệ học sinh cho rằng không có nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD và không biết còn cao, các em còn rất lung túng khi đưa ra đáp án của mình. Hầu như, đa số các em học sinh đều có suy nghĩ rằng có QHTD thì mới bị mắc bệnh LTQĐTD. Tuy nhiên nhận thức này hoàn toàn sai, một số bệnh LTQĐTD như: bệnh mụn rộp sinh dục Herpes và HPV có thể lây truyền qua tiếp xúc da với da đơn thuần mà không cần phải QHTD thực sự. Do đó, chúng ta thực sự có thể bị mắc mụn rộp sinh dục chỉ qua những nụ hôn. Trong khi đó, chúng ta có thể bị mắc mụn rộp sinh dục Herpes hoặc HPV qua tiếp xúc với da bị tổn thương hoặc tiếp xúc bộ phận sinh dục với nhau. Vậy nhận thức của học sinh về các hành vi có nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD còn thấp và chưa đầy đủ.


Image source: https://phapluatxahoi.vn/stores/news_dataimages/phapluatxahoi/062017/17/07/gt-2-bb-baaaccxzqj20170629225407.0965500.jpg (ảnh chỉ mang tính minh họa)

Nhìn chung, nhận thức của học sinh THPT về các bệnh LTQĐTD trong một số nội dung là khá cao. Đa số các em có quan điểm đúng về một số hành vi có nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD khi cho rằng những hành vi đó chắc chắc sẽ dẫn đến nguy cơ mắc bệnh. Tuy nhiên để hiểu sâu về các bệnh LTQĐTD thì nhận thức của các em còn hạn chế. Các em chỉ biết nhiều đến nguyên nhân, hậu quả của các bệnh LTQĐTD mà chưa biết rõ đến các loại bệnh, biểu hiện cũng như cách phòng và điều trị bệnh. Khi hỏi đến một số loại bệnh LTQĐTD thì các em còn lúng túng, và hầu như không biết rõ về các bệnh đó. Ngoài ra còn có một phần lớn học sinh có quan niệm sai lầm khi nghĩ bệnh LTQĐTD chỉ mắc khi có QHTD. Vì vậy việc nâng cao nhận thức cho các em là vô cũng cần thiết để không ảnh hưởng đến hành vi tình dục và tương lai của các em sau này.

2.2. Hành vi tình dục an toàn của học sinh

Sinh hoạt tình dục trước hôn nhân đang là vấn đề rất được quan tâm không chỉ ở các nước phát triển mà đối với cả các nước đang phát triển như Việt Nam, bởi vì QHTD trước hôn nhân ngày càng trở nên phổ biến. Đặc biệt ở độ tuổi VTN nói chung và học sinh THPT nói riêng thì việc có sinh hoạt tình dục trước hôn nhân không được khuyến khích từ phía gia đình và xã hội. Liệu điều này có ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi tình dục của học sinh hay không?

Kết quả xử lý số liệu định lượng cho thấy, trong 73 học sinh đã có người yêu thì có 84.9% (n=62) trả lời “không đồng ý” và không có học sinh nào “đồng ý” khi được hỏi “Nếu người yêu muốn QHTD thì bạn có đồng ý không?”. Tuy nhiên vẫn có 15.1% (n=11) trả lời “tùy trường hợp”. Như vậy, mặc dù tỷ lệ học sinh có người yêu cao, nhưng các em có thái độ đúng đắn khi từ chối việc QHTD nếu người yêu của muốn. Kết quả xử lý PVS cũng cho thấy rõ điều đó:


Từ kết quả xử lý số liệu định tính và định lượng cho thấy học sinh đã biết từ chối khi có yêu cầu QHTD. Tuy nhiên vẫn còn một số học sinh cho rằng tùy trường hợp.

Trong tổng số 120 học sinh được hỏi thì chỉ có 9 học sinh (7.5%) cho biết đã từng QHTD. Cho thấy tỷ lệ học sinh đã từng QHTD thấp. Trong 9 học sinh đã từng QHTD khi được hỏi “Lần QHTD gần đây nhất, 2 bạn sử dụng BPTT nào? Kết quả thu thập thông tin cho thấy, đối với những học sinh đã có QHTD (n=9) tỷ lệ sử dụng các BPTT cao (n=7/9). Trong đó: tỷ lệ sử dụng bao cao su là 44.5% (n=4), 22.2% (n=2) uống thuốc tránh thai khẩn cấp, 11.1% sử dụng biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo (n=1), tuy nhiên vẫn còn 22.2% (n=2) học sinh QHTD mà không sử dụng các BPTT. (Xem hình 1)

Kết quả này phản ánh: đối với những học sinh không sử dụng BPTT khi QHTD thì nguy cơ mắc bệnh LTQDDTD và mang thai ngoài ý muốn cao. Đối với những học sinh sử dụng bao cao su, dù không biết có đúng cách hay không, tuy nhiên nguy dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh LTQĐTD thấp hơn. Đối với những học sinh sử dụng biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo và uống thuốc tránh thai khẩn cấp thì sẽ dễ có nguy cơ mắc các bệnh LTQĐTD, đặc biệt đối với biện pháp uống thuốc tránh thai khẩn cấp nếu sử dụng quá nhiều và không theo chỉ dẫn của bác sĩ sẽ dẫn đến vô sinh, nghiêm trọng là tử vong đối với các bạn nữ.

(Nguồn: Xử lý số liệu tháng 4/2018)

Nhìn chung, tỷ lệ học sinh có người yêu cao, nhưng tỷ lệ đã từng QHTD thấp. Đối với những học sinh đã QHTD đa số biết sử dụng BPTT khi có QHTD; tuy nhiên tỷ lệ học sinh sử dụng BPTT nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm bệnh LTQĐTD và mang thai ngoài ý muốn không cao.

3. KẾT LUẬN

Nhận thức của nhóm học sinh trong mẫu nghiên cứu này về vấn đề tình dục an toàn là chưa cao và không đồng đều giữa các nội dung. Các em biết rõ về nguyên nhân và hậu quả của các bệnh LTQĐTD, có nhận thức đúng đắn về QHTD và hậu quả của mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai. Tuy nhiên, hiểu biết của học sinh về khái niệm “tình dục an toàn” là chưa đầy đủ và chính xác, đối với một số nội dung liên quan đến bệnh LTQĐTD và những căn bệnh cụ thể thì mức độ hiểu biết của các em còn thấp.

Tỷ lệ học sinh có người yêu cao, nhưng tỷ lệ đã từng QHTD thấp. Đối với những học sinh đã có QHTD, đa số biết sử dụng BPTT khi có QHTD; tuy nhiên, tỷ lệ học sinh sử dụng biện pháp tránh thai nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm bệnh LTQĐTD và mang thai ngoài ý muốn không cao.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] An Bình (2017), “Tỷ lệ nạo phá thai ở Mỹ chạm mức thấp nhất trong lịch sử”, DKN.TV

[2] Võ Thị Hiền (2018), “Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi tình dục an toàn của học sinh trường Trung học phổ thông Đỗ Đăng Tuyển, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam hiện nay”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Xã hội học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.

[3] Đời sống và pháp luật (2016), Công bố độ tuổi "quan hệ" đầu tiên của 44 quốc gia

[4] Hồ Quang (2017), “Việt Nam có tỷ lệ trẻ vị thành niên phá thai cao nhất Đông Nam Á”, Mothegioi.vn

[5] http://suckhoedoisong.vn/the-nao-la-tinh-duc-an-toan-va-lanh-manh-n25786.html


---

Chú thích:

(1) Nguyễn Tư Hậu, Giảng viên khoa Xã hội học, ĐHKH, Đại học Huế

(2) Võ Thị Hiền, sinh viên lớp XHH - K38

---

Ảnh bìa: https://vtv1.mediacdn.vn/thumb_w/650/2018/6/23/giao-duc-gioi-tinh-1529735842778734738931.jpg

---

Biên tập: Tuấn Long & Hoàng Quân