Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành của hộ gia đình [...]

Khoa Xã hội học

Nghiên cứu

Tác giả: Mai Phương (*)

05 Tháng Bảy, 2019

Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành của hộ gia đình [...]

" Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành của hộ gia đình tại xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa "

1. Đặt vấn đề

Cùng với công cuộc Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH) và Xây dựng nông thôn mới, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm khuyến khích chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.

Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế tác động mạnh như một yếu tố tạo cầu cho lao động phi nông nghiệp, kéo theo quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Quá trình chuyển dịch này gắn liền chặt chẽ với những đặc điểm của người lao động như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật… Ngoài ra, quá trình chuyển dịch ấy cũng chịu sự tác động không nhỏ của những đặc điểm hộ gia đình như số nhân khẩu, số lao động không có việc làm trong tổng số lao động của hộ… [14]

Xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là cửa ngõ của huyện Quảng Điền, nằm trong khu vực tiếp giáp với các khu công nghiệp ở Hương Trà, Phong Điền và thành phố Huế. Xã được chọn thí điểm chương trình Xây dựng nông thôn mới từ năm 2010. Với những thuận lợi đó, Quảng Phú dần chứng kiến sự xuất hiện ngày càng nhiều các ngành nghề phi nông nghiệp mới, kéo theo sự thay đổi cơ cấu lao động của các hộ gia đình tại địa phương.

Image source: http://www.nongthonmoithuathienhue.vn/imgs/Thu_muc_he_thong/_Nam_2017/_Thang_07/quang-phu.jpg

Bài viết dựa trên kết quả khảo sát tại các thôn: Hạ Lang, Hà Cảng, Phú Lễ, Bao La với sự kết hợp của các phương pháp nghiên cứu: Phân tích tài liệu, câu chuyện lịch sử (11 trường hợp), phỏng vấn bán cấu trúc (8 trường hợp), phỏng vấn cấu trúc (237 trường hợp, chọn mẫu xác suất, cách lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên).

2. Bức tranh tổng quan về sự chuyển dịch cơ cấu lao động lao động theo ngành của hộ gia đình

Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cơ cấu lao động nông thôn ở Việt Nam trong những năm qua đã có sự chuyển biến nhất định. Theo đó, số lượng và tỷ lệ lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi trong khi lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng [24]. Thực trạng đó cũng diễn ra tương tự ở nhiều khu vực nông thôn tại Thừa Thiên Huế. Theo số liệu niên giám thống kê từ 2004-2013 của huyện Quảng Điền, tỷ lệ lao động nông nghiệp đã giảm từ 58,7% xuống còn 41,5%, lao động công nghiệp tăng từ 12,5% - 20,9% và lao động dịch vụ cũng tăng từ 28,8% - 37,6%. [8]

Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động tại xã Quảng Phú trong 10 năm qua nằm trong xu hướng chung của huyện. Kết quả khảo sát cho thấy, cơ cấu lao động ngành chuyển dịch theo hướng giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp và tăng tỷ lệ lao động công nghiệp, dịch vụ. Cụ thể, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 51,4% (2004) xuống còn 39,7% (2013), lao động công nghiệp tăng từ 25% (2004) lên 28,4% (2013), lao động dịch vụ tăng từ 23,6% (2004) lên 31,9% (2013). Điều này chứng tỏ đã và đang có một lực lượng lớn lao động di chuyển ngành nghề từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp.

Với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ, khi xem xét sự chuyển dịch cơ cấu lao động của hộ gia đình cũng mang lại kết quả tương tự. Theo đó, tính đến thời điểm 2013, ở xã Quảng Phú đã hình thành 3 loại hộ ngành nghề: Hộ thuần nông, hộ kinh tế hỗn hợp (tức là nghề nông kết hợp với nghề phi nông), hộ phi nông hoàn toàn.

(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu)

Biểu đồ 1 cho thấy, quá trình phân hóa nghề nghiệp của các hộ gia đình đang diễn ra theo chiều hướng giảm thuần nông và hộ kinh tế hỗn hợp, tiến tới tăng phi nông nghiệp hoàn toàn. Cụ thể, trong giai đoạn 2004-2013, nhóm hộ thuần nông đã giảm từ 62 hộ xuống còn 33 hộ, nhóm hộ hỗn hợp giảm từ 96 còn 94 hộ và nhóm hộ phi nông tăng từ 79 lên 110 hộ.

Việc dịch chuyển sang ngành nghề phi nông nghiệp chủ yếu là do sự di động dọc lực lượng lao động các hộ từ nhóm thuần nông và nhóm hỗn hợp. Nhóm thuần nông đã giảm mạnh nhất, từ 26,2% (2004) còn 13,9% (2013), nhóm hỗn hợp giảm nhẹ 40,5% (2004) còn 39,7% (2013), trong khi đó tốc độ chuyển đổi sang ngành nghề phi nông nghiệp diễn ra khá nhanh, từ 33,3% (2004) lên tới 46,4%. Quả thực, sự “năng động” chuyển dịch cơ cấu lao động của các hộ gia đình tại Quảng Phú trong 10 năm qua không những diễn ra ở các nhóm hộ hỗn hợp mà còn ở các nhóm hộ thuần nông. Đây là sự khác biệt khá lớn so với một vài nghiên cứu trước đây.

Có thể khẳng định rằng, xã Quảng Phú có cơ cấu lao động thuộc nhóm làng xã “hiện đại”. Vào thời điểm 2004, tỷ trọng nhóm hỗn hợp - (hay còn gọi là nhóm trung lưu) phình to nhất, sau đó là đến nhóm phi nông và cuối cùng là nhóm thuần nông. Điều này minh chứng xu hướng chuyển dịch giảm nông nghiệp, tăng hỗn hợp và tiến tới phi nông nông nghiệp. 10 năm sau đó, cơ cấu lao động của các hộ gia đình có dạng hình tháp, trong đó đáy tháp to nhất thể hiện tỷ trọng của nhóm hộ phi nông nghiệp, phần giữa tháp với diện tích lớn thứ hai thể hiện tỷ trọng của nhóm hộ hỗn hợp và chóp tháp bé nhất thể hiện tỷ trọng của nhóm hộ thuần nông. Điều này chứng tỏ càng về sau càng có nhiều hộ gia đình thoát khỏi nông nghiệp, làm giảm tỷ lệ hỗn hợp và tiến tới phi nông nghiệp hoàn toàn.

Để có được thành quả này, chính quyền địa phương và đặc biệt là bản thân các hộ gia đình đã rất “cố gắng nổ lực”.

Image source: https://bit.ly/2XuXRmJ

Một mặt, chính quyền địa phương đã xây dựng và thực hiện các chương trình liên quan đến việc thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở địa phương như: Hỗ trợ con giống trong chăn nuôi và trồng trọt, chuyển đổi cây trồng, vay vốn làm ăn, đào tạo nghề và xây dựng cơ sở hạ tầng. Mặt khác, chính việc quá tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng bằng cách thu hồi đất nông nghiệp của các hộ dân trong khi không chú trọng đến công tạo tạo việc làm mới cho người lao động khiến họ phải “tự cố gắng” tìm cách duy trì nguồn sinh kế - hoặc tiếp tục thuê đất làm nông nghiệp hoặc phải tìm nghề mới.

Một cán bộ cho biết: “Địa phương luôn nhấn mạnh đến việc giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, đó là điều kiện tiên quyết để kinh tế của địa phương tiến triển trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, vẫn chưa thấy một chủ trương, chính sách nào liên quan đến việc hỗ trợ nghề mới cho người dân mà chỉ chú trọng vào xây dựng cơ sở hạ tầng để đạt chỉ tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới. Thêm vào đó, dân cư ngày càng đông đúc, quỹ đất ngày càng hạn hẹp, đất nông nghiệp bị thu hồi đem đấu giá để xây dựng các cửa hàng kinh doanh, buôn bán, dịch vụ đã khiến những hộ vốn chỉ dựa vào nông nghiệp lại càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm một nghề mới. Họ chỉ có thể thuê đất của những hộ khác để tiếp tục canh tác, hoặc đấu quỹ đất còn lại của địa phương để trồng trọt, đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện tại.” [Nam, 56 tuổi, phó trưởng thôn, xã Quảng Phú].

Sự chuyển dịch cơ cấu lao động của các hộ gia đình 10 năm qua tại Quảng Phú tuy thành công nhưng vô hình chung đã tạo áp lực cho người lao động, đặc biệt là lao động thuần nông. Đây cũng chính là điều rất cần lưu tâm đối với vấn đề lao động – việc làm ở Quảng Phú nói riêng và các khu vực nông thôn khác nói chung trong bối cảnh CNH, HĐH.

Tóm lại, từ 2004-2103 có sự chuyển dịch cơ cấu lao động của hộ gia đình theo ngành nghề. Tỷ lệ hộ thuần nông, hộ hỗn hợp có xu hướng giảm và tiến tới phi nông nghiệp hoàn toàn. Sự biến đổi này cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH khu vực nông thôn và chương trình Xây dựng nông thôn mới của Tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, cũng cần phát huy hơn nữa vai trò của chính quyền địa phương và cơ quan các cấp trong công tác định hướng, giúp đỡ người lao động chuyển đổi, tìm kiếm việc làm mới.

2.1. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành nghề của hộ gia đình thuần nông

Hộ gia đình thuần nông là hộ gia đình có lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Nghiên cứu ở xã Quảng Phú từ 2004-2013 cho thấy, đây là nhóm hộ có sự chuyển dịch mạnh trong thời gian qua, tỷ lệ hộ thuần nông giảm đến 12,3%. Đối với một xã truyền thống thuần về nông nghiệp thì mức giảm này là một con số cần được ghi nhận. So với mặt bằng chung của các đơn vị xã, thôn khác trên toàn huyện, trình độ dân trí ở đây được xếp ở mức cao, bản thân các hộ gia đình rất chịu khó học hỏi, nhạy bén với cơ chế kinh tế thị trường đã góp phần thúc đẩy thúc đẩy người lao động bứt ra khỏi nông nghiệp và tham gia vào các lĩnh vực ngành nghề phi nông.

Quả thực, sự chuyển dịch của hộ gia đình thuần nông đã có một bước chuyển lớn qua các mốc thời gian. Kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm 2012 tại 12 tỉnh ở Việt Nam do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương CIEM thực hiện kết luận rằng, số hộ thuần nông giảm đáng kể. Nếu năm 2008 có 56,01% hộ thuần nông thì đến 2012 chỉ còn 21,3%. Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành nghề của các hộ gia đình thuần nông ở Quảng Phú 10 năm qua nằm trong xu hướng chuyển dịch với các khu vực nông thôn khác trên toàn quốc.

Lĩnh vực nông nghiệp của các hộ gia đình thể hiện qua 3 hoạt động chính: Trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Về trồng trọt, ngoài lúa, các hộ gia đình còn tham gia trồng xen canh các loại nông sản khác như khoai, sắn, ngô, lạc, đặc biệt là mía. Trong chăn nuôi, chủ yếu là nuôi bò, trâu, heo và các loại gia cầm. Đối với nuôi trồng thủy sản, tập trung vào nuôi cá với hình thức cá lồng và cá ao hồ.

Khi xem xét xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành của hộ gia đình thuần nông, kết quả nghiên cứu cho thấycó 25 hộ tiếp tục hoạt động nông nghiệp, chiếm 40,3%; 25 hộ vừa làm nông kết hợp phi nông, chiếm 40,3%; 12 hộ phi nông hoàn toàn, chiếm 19,4%. Như vậy, có đến hơn một nữa số hộ dần tách khỏi hoạt động nông nghiệp để kiêm thêm hoặc chuyển hẳn sang các ngành nghề mới. Điều này khẳng định tiềm lực chuyển dịch của các hộ thuần nông trong 10 năm qua khá mạnh mẽ.

Đối với các hộ gia đình thuần nông, họ chỉ có thể duy trì sinh kế từ các nguồn vốn sẵn có như sức lao động, tài chính cũng như khai thác hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên. Vì vậy, để giúp đỡ người nông dân cải thiện mức sống, cần thiết phải phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, tiên tiến bằng cách ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.

Số liệu từ bảng 2 cũng chỉ ra rằng, với 40,3% hộ gia đình không có sự chuyển dịch cơ cấu lao động chứng tỏ truyền thống “trọng nông” vẫn còn in đậm. Mặc dù vẫn còn một bộ phận hộ gia đình làm nông nghiệp nhưng hình thức canh tác đã thay đổi rất nhiều. Dưới sự giúp đỡ của các dự án Phi chính phủ, thời gian qua, chính quyền địa phương xã Quảng Phú đã triển khai được nhiều chương trình hỗ trợ trong nông nghiệp như: Cung cấp nguồn giống mới; quy hoạch đồng ruộng, mở các lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc lúa, lạc, heo, gà theo tiêu chuẩn an toàn sinh học; hỗ trợ vay vốn mua máy móc. Ngoài ra, nhiều hộ gia đình cũng tự học hỏi nhau, chuyển đổi cây trồng từ lúa, khoai, sắn sang trồng mía hoặc làm nấm sò, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hay hoạt động chăn nuôi trâu bò thay vì lấy sức kéo như trước thì nay lại tập trung nuôi trâu vỗ béo bán thịt. Nuôi trồng thủy hải sản cũng phát triển hơn với mô hình thử nghiệm nuôi cá lồng trên sông Bồ…

Một cán bộ lãnh đạo cho biết: “Từ chỗ chuyển đổi về vùng đất, thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa nên bữa ni không có ruộng manh mún nữa. Chừ là đại trà, giống phải đều nhau, gặt là gặt hết, cấy là cấy hết, gieo là gieo hết. Nhờ rứa (vậy) mà năng suất cho cũng cao hơn trước… Về đồng ruộng là dưới sự điều hành của HTX. Về chăn nuôi là của các đoàn thể, chủ yếu là tuyên truyền sử dụng kiến thức, những kiến thức cơ bản nhất, đặc biệt là người dân tự học hỏi nhau. Ví dụ, chị nhà ni nuôi 10 con thì chị nhà sát bên cũng mày mò răng phải nuôi cho được 10 con, cho nên kinh tế cứ lên thôi.” [Nữ, 49 tuổi, cán bộ lãnh đạo, xã Quảng Phú]

Như vậy, hoạt động nông nghiệp đã có sự biến đổi hình thức canh tác theo hướng từ nông nghiệp giản đơn, năng suất thấp sang các mô hình sản xuất quy mô lớn. Với việc áp dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp ngày càng phổ biến đã giải phóng sức lao động của người nông dân, giảm công lao động trên đồng ruộng, góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động của hộ gia đình thuần nông sang hộ hỗn hợp và phi nông nghiệp.

Tóm lại, cơ cấu lao động theo ngành nghề của hộ gia đình thuần nông từ 2004-2013 chuyển dịch theo hướng giảm nông nghiệp, tăng hỗn hợp và phi nông nghiệp. Sự chuyển dịch này diễn ra khá mạnh ở chính những hộ gia đình vốn không có nhiều tiềm năng để chuyển đổi nghề nghiệp. Bên cạnh đó, các hoạt động nông nghiệp dưới hỗ trợ của khoa học kỹ thuật và hoạt động cơ giới hóa đã và đang giúp các hộ gia đình chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại.

2.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành nghề của hộ gia đình hỗn hợp

Hộ gia đình hỗn hợp là hộ gia đình có lực lượng lao động làm nghề nông kết hợp với các nghề phi nông nghiệp.

Trong bối cảnh CNH, HĐH khu vực nông thôn, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang xây dựng cơ sở hạ tầng là nguyên nhân chính gây nên tình trạng không có đất ngày càng tăng. Người nông dân vốn dĩ chỉ quen với nghề nông nên gặp nhiều khó khăn khi chuyển đổi nghề nghiệp, thậm chí nhiều lao động rơi vào cảnh thất nghiệp. Bên cạnh đó, với số tiền được đền bù sau khi thu hồi đất, chỉ có rất ít các hộ gia đình biết sử dụng hợp lý, tìm kiếm việc làm thích hợp, còn số đông dùng để xây nhà, mua sắm tài sản, tiêu xài hoang phí mà chưa có định hướng nghề nghiệp và kế hoạch ổn định lâu dài. Vì vậy, nhiều hộ gia đình rơi vòng luẩn quẩn thiếu việc làm, nghèo đói. Đó là thực trạng phổ biến ở nhiều khu vực nông thôn trên cả nước. [3]

Ở Quảng Phú, với lợi thế sẵn có của sự đa đạng ngành nghề phi nông nghiệp, cộng thêm sự nhạy bén của người dân lao động nên tình trạng thất nghiệp vì mất diện tích đất sản xuất không phải vấn đề điển hình trong 10 năm qua. Ngoài nông nghiệp, từ lâu, địa phương được biết đến với nhiều nghề thủ công truyền thống như mây tre đan Bao La, làm hương, làm vành nón, mộc mỹ nghệ và các ngành nghề phi nông nghiệp khác như mổ lợn, kinh doanh bánh ướt. Nhiều hộ gia đình đã biết kết hợp nghề chính là làm nông với nghề phụ là làm phi nông nghiệp để cải thiện đời sống gia đình. Điều này cũng lý giải vì sao vào thời điểm 2004 đã có đến 40,5% hộ gia đình hỗn hợp, chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số cơ cấu lao động phân theo hộ gia đình.

Từ năm 2004-2013, tỷ lệ hộ gia đình hỗn hợp có xu hướng giảm nhẹ - 0,8%. Như vậy, đã có một bộ phận hộ gia đình hỗn hợp có sự chuyển đổi nghề nghiệp. Khi xem xét xu hướng chuyển dịch của loại hộ này, kết quả từ bảng 3 cho thấy, phần lớn các hộ vẫn giữ nguyên loại hình sản suất kinh doanh hỗn hợp với số lượng là 63 hộ, chiếm 65,6%, chỉ có 8 hộ chuyển dịch về thuần nông, chiếm 8,3% và 25 hộ chuyển dịch lên phi nông nghiệp, chiếm 26%. Chứng tỏ, các hộ gia đình hỗn hợp đã và đang dần chuyển dịch theo hướng thoát khỏi nông nghiệp và dồn lực lượng lao động sang phi nông nghiệp hoàn toàn.

Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng cơ cấu lao động phân theo hộ, hình thức sản xuất của các hộ gia đình hỗn hợp cũng thay đổi trong 10 năm qua. Thay vì trước đây, các hộ dân kết hợp làm nông với các hoạt động thủ công, kinh doanh truyền thống thì nay họ còn biết kết hợp với các ngành nghề khác như công nhân, buôn bán hay làm dịch vụ trong và ngoài địa phương, góp phần đa dạng hóa ngành nghề khu vực nông thôn. Chia sẻ về nghề nghiệp của các thành viên trong gia đình, một người dân cho biết: “Năm nay tôi 54 tuổi, sinh ra và lớn lên ở đây. Hiện tại, nhà tui có 6 người, 2 vợ chồng với 4 thằng con trai. Nhà trước đây chỉ làm ruộng, từ khi mở đường, nhà tôi ra đấu đất rồi mở quán cà phê buôn bán hai vợ chồng. Chừ làm nông thì vẫn trồng lúa, mía, không trồng khoai, sắn, đậu nữa vì chừ không còn đất nhiều như trước, có nữa thì chỉ rải đậu ở vùng mía, trồng cùng rứa (vậy) thôi. Con trai đầu làm thợ chạm. Nói thợ chạm rứa (vậy) thôi chứ cũng vừa làm đất làm ruộng, chỉ lúc mô (nào) có ai thuê chạm thì mới làm hàng, còn không thì cứ đi ra đi vô đồng ruộng. Con trai thứ hai làm công nhân trong Sài Gòn, còn hai đứa sinh đôi sau ni là sửa xe ngay cạnh quán đây.” [Nữ, 54 tuổi, thôn Hạ Lang, xã Quảng Phú]

Bên cạnh đó, nhiều gia đình còn định hướng cho con cái của mình tham gia các lĩnh vực nghề nghiệp ngoài nông nghiệp, nhờ đó lực lượng lao động nông nghiệp trong gia đình cũng suy giảm theo, cơ cấu lao động của hộ cũng dịch chuyển. Một cán bộ thôn chia sẻ: “Xu hướng bây giờ giảm về nông nghiệp, giảm chăn nuôi và chuyển qua xu hướng làm vành nón, không bị phụ thuộc ai hết vì vành nón tất cả mọi người từ giả trẻ, nam nữ chi cũng làm được. Chủ lực nhà nào con đông thì làm vành nón hết, nhất là mùa hè ni, thu nhập từ vành nón cao lắm… Thực tế đây 10 nhà hết 8 nhà cho con em đi may, làm trái nghề hết. Những em không có bằng cấp, học ngang lớp 9, 10 hoặc 12 hay rớt Đại học thì hắn tự xác định nghề của hắn, hắn không thể làm những nghề trong Nhà nước thì đi tìm những nghề chính như thợ may, thợ hồ, thợ mộc, đi đến các khu công nghiệp, hoặc có những em đi phụ cha mẹ làm thợ xây. Những nghề này rất dễ kiếm.” [Nam, 45 tuổi, trưởng thôn, xã Quảng Phú]

Image source: https://bit.ly/30bphus

Nghiên cứu tại xã Vũ Hội (huyện Vũ Thư, Thái Bình) khi phân tích nhóm hộ hỗn hợp cho thấy, đây là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng cơ cấu lao động phân theo hộ gia đình. Mặc dù nhóm hỗn hợp rất lớn nhưng trong đó chủ yếu vẫn là hỗn hợp giữa nghề nông là chính với ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và chế biến nông sản làm bún, bánh phở. Thực trạng này chứng tỏ mức độ chưa đủ chuyên môn hóa nghề nghiệp để chuyển sang phi nông nghiệp hoàn toàn [19, tr.29]. So với Quảng Phú, điểm giống nhau ở chỗ tỷ lệ hộ hỗn hợp chiếm tỷ trọng cao nhất nhưng lại khác nhau về khả năng bứt khỏi hoạt động nông nghiệp của người lao động.

Theo đó, nếu trước đây, nghề nông đóng vai trò là nghề chính thì ngày nay, nghề nông chỉ còn là nghề phụ đối với các hộ kiêm nghề. Một cán bộ thôn cho biết: “Thực tế mà nói, hiện tại thôn còn khoảng dưới 30% là chủ lực nông nghiệp. Nghề của họ không chính thức, ví dụ như thợ nề, bình quân một ngày có 300 - 400 ngàn, một tháng họ làm từ 20 - 25 ngày, dù họ vẫn làm ruộng nhưng không còn là nghề chính của họ nữa. Bây giờ vào nhà nào mang tiếng vợ chồng làm ruộng nhưng đâu có ở nhà, có thể chồng làm thợ nề, vợ đi may, đi làm hương hoặc làm ở các khu công nghiệp nhỏ lẻ. Bây giờ về nhà (khoảng 15h00) các cặp vợ chồng trẻ là đi hết, không có ở nhà, chẳng qua họ làm một vài sào ruộng là vì họ có đất họ làm tránh mùa mưa gió họ ăn thôi, còn chừ làm nông nghiệp thì ăn cái chi.” [Nam, 45 tuổi, trưởng thôn, xã Quảng Phú].

Như vậy, không những hình thức kết hợp ngành nghề ở các hộ gia đình hỗn hợp có sự thay đổi mà vị trí, vai trò của hoạt động nông nghiệp cũng suy giảm theo. Điều này càng thể hiện tính năng động trong quá trình chuyển đồi nghề nghiệp của người lao động, là tác nhân quan trọng tạo ra xu hướng chuyển dịch dần thoát khỏi nông nghiệp và tiến đến phi nông nghiệp hoàn toàn.

Tóm lại, cơ cấu lao động theo ngành nghề của hộ gia đình hỗn hợp ở Quảng Phú trong 10 năm qua ở mức giảm nhẹ và có xu hướng chuyển dịch chủ yếu vào hoạt động phi nông nghiệp. Bản thân các hộ gia đình hỗn hợp cũng chuyển đổi hình thức kiêm nghề, theo đó thay vì kết hợp nông nghiệp với các hoạt động thủ công, kinh doanh truyền thống thì ngày nay còn xuất hiện sự kết hợp với các ngành nghề mới trong và ngoài địa phương, góp phần đa dạng hóa ngành nghề khu vực nông thôn.

2.3. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành nghề của hộ gia đình phi nông nghiệp

Hộ gia đình phi nông nghiệp là loại hộ có lực lượng lao động thuần túy trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề cán bộ công chức. Nói cách khác, đây là những hộ hoàn toàn tách biệt với hoạt động nông nghiệp.

Quay trở lại với vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, theo số liệu của Tổng cục Quản lý đất, Bộ Tài nguyên Môi trường, bình quân mỗi năm đất nông nghiệp giảm gần 100 nghìn ha và số lao động bước ra khỏi ruộng đồng vào khoảng 400 ngàn người. Diện tích đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm mạnh khi mức tăng dân số ở nông thôn không giảm như mong đợi [56]. Trong bối cảnh đó, nghề phi nông nghiệp là sự lựa chọn phù hợp cho người lao động.

Sau khi tiến hành thu hồi, bên cạnh một bộ phận nông dân bị thu hẹp diện tích đất canh tác thì cũng có không ít hộ gia đình bị mất hoàn toàn, đó là thực trạng đã và đang diễn ra ở Quảng Phú trong 10 năm qua. Đối với các hộ dân bị mất đất một phần, họ sử dụng cho thuê hay vẫn tiếp tục sản xuất chăn nuôi, trồng trọt và kết hợp với nhiều ngành nghề phi nông. Đối với các hộ dân bị thu hồi hết đất, hoặc là họ thuê lại đất của các hộ khác để sản xuất, hoặc là chuyển hẳn sang các ngành nghề phi nông nghiệp trong và ngoài địa phương. Chính vì thế đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở các hộ gia đình từ thuần nông lên hỗn hợp và tiến đến phi nông nghiệp hoàn toàn. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, tỷ lệ hộ gia đình phi nông nghiệp đã tăng lên, đạt mốc 46,4% vào thời điểm 2013 và trở thành loại hộ có tỷ trọng cao nhất trong tổng số cơ cấu lao động của hộ gia đình tại Quảng Phú.

Khi xem xét xu hướng chuyển dịch của hộ gia đình phi nông nghiệp, nhìn chung không có sự biến đổi đáng kể. Theo đó, phần lớn các hộ gia đình vẫn chủ yếu tham gia vào các lĩnh vực ngành nghề phi nông nghiệp với 73 hộ, đạt 92,4%. Chỉ có 6 hộ chuyển dịch về hộ hỗn hợp, chiếm 7,6% và không có hộ nào chuyển dịch về hộ thuần nông.

Nhìn chung, hộ phi nông nghiệp là những hộ vốn có năng lực trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp từ trước. Vì vậy, tiếp tục duy trì các ngành nghề phi nông nghiệp đã có, hay chuyển đổi, tham gia vào các ngành nghề phi nông nghiệp mới trong bối cảnh thị trường mở cửa như hiện nay là một xu thế tất yếu. Điều này lý giải vì sao, phần lớn các hộ phi nông nghiệp không có sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong thời gian qua.

Ngoài các ngành nghề phi nông nghiệp sẵn có ở địa phương như kinh doanh bánh ướt, mổ thịt heo, buôn bán ở chợ, mộc mỹ nghệ, đan lát, làm vành nón, làm hương thì đến năm 2013 đã xuất hiện thêm nhiều nghề mới. Một cán bộ lãnh đạo cho hay: “Trong chục năm trở lại đây thì số lượng lao động nông nghiệp giảm, chủ yếu người ta đi làm nghề khác như đi may, thợ nề, thợ mộc, không thì mở hàng tạp hóa, sửa xe máy, uốn tóc, bán vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng thì nhiều lắm.” [Nam, 55 tuổi, cán bộ lãnh đạo xã Quảng Phú].

Những nghề mới này có được nhờ sự xuất hiện của các khu công nghiệp lân cận và công trình cầu Tứ Phú, khu du lịch Hạ Lang. Vì thế, việc di chuyển và giao thương buôn bán trở nên dễ dàng hơn trước. Nhiều cửa hàng dịch vụ đi kèm được các hộ dân mở ra ngày càng nhiều, như một cán bộ đã nói: “Những nghề nổi trội hơn trước là xây dựng, thợ nề, may. Ngày xưa cũng không có mấy quán hàng bán như bây chừ mô (đâu), chỉ có mấy quán rải rải quanh đó thôi, nhưng chừ có cầu Tứ Phú thì họ mở lên các đại lý tạp hóa vừa, đại lý công nghiệp lớn, đại lý thức ăn gia súc tạo thu nhập cho bà con.” [Nam, 45 tuổi, trưởng thôn, xã Quảng Phú]

Image source: http://baodantoc.com.vn/wp-content/uploads/2018/04/baodantoc_tram_huong.jpg

Nhằm giải quyết việc làm cho người lao động trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đề án 1956 của Chính phủ về việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 được triển khai ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, trong đó nội dung chủ yếu có đề cập đến công tác dạy nghề cho nhóm lao động trong các làng nghề ở vùng đồng bằng, nhóm nông dân chuyển sang công nghiệp, dịch vụ (ở vùng núi và vùng đồng bằng, trung du). Một số nơi đã thực hiện thành công, bước đầu giúp người lao động chuyển nghề như Bắc Ninh, Thái Bình, Bến Tre… Tuy nhiên, cũng có nhiều nơi người lao động không áp dụng được kiến thức đã được học vào sản xuất, thậm chí không ít người lao động cũng không mặn mà với việc học nghề tại địa phương. Thay vào đó, họ rời khỏi quê hương, vừa học vừa làm nghề, chủ yếu là các nghề phi nông nghiệp. Chính điều đó đã góp phần đa dạng hóa ngành nghề phi nông nghiệp, gia tăng tỷ lệ hộ gia đình phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn. Đây cũng chính là thực trạng đang diễn ra tại xã Quảng Phú.

Tóm lại, sự chuyển dịch cơ cấu lao động của hộ gia đình phi nông nghiệp diễn ra không đáng kể. Phần lớn các hộ vẫn tham gia vào các ngành nghề ngoài nông nghiệp. Với xuất phát điểm tốt, cộng thêm các yếu tố thuận lợi về cơ chế thị trường mở đã tạo điều kiện cho các hộ gia đình phi nông nghiệp càng phát triển hơn nữa nhờ vào các ngành nghề phi nông nghiệp.

3. Kết luận

Có thể nói rằng, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành nghề của hộ gia đình ở xã Quảng Phú giai đoạn 2004-2013 mang tính tích cực, phù hợp với yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH khu vực nông thôn. Đã có 3 loại hộ nghề nghiệp hình thành: Hộ thuần nông, hộ hỗn hợp và hộ phi nông nghiệp. Nhìn chung, tỷ lệ hộ gia đình thuần nông và hỗn hợp giảm , tiến đến phi nông nghiệp hoàn toàn. Xu hướng chuyển dịch ở các hộ diễn ra khác nhau tùy vào đặc thù của từng loại hộ. 

Tài liệu tham khảo:

[1]. Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Xuân Mai (2007). Những biến đổi kinh tế-xã hội của hộ gia đình, NXB Khoa học Xã hội

[2]. Chi cục thống kê Quảng Điền. Niên giám thống kê huyện Quảng Điền 2006, 2010, 2011 (lưu hành nội bộ).

[3]. Chi cục Thống kê Quảng Điền (2013). Báo cáo chính thức: Hệ thống chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu của huyện Quảng Điền năm 2013.

[4]. Võ Thanh Dũng, Nguyễn Văn Sánh, Nguyễn Phú Son, Phạm Hải Bửu (2010). Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn và tác động của sự chuyển dịch này đến nông hộ ở thành phố Cần Thơ, Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, tr.291.

[5]. Đỗ Thiên Kính (1995). Sự biến đổi của cơ cấu nghề nghiệp và phân tầng mức sống ở nông thôn đồng bằng sông Hồng, Xã hội học, số 3.

[6]. Lê Thị Kim Lan (2011). Lao động di cư ở nông thôn miền Trung Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH, NXB Đại học Huế, Thừa Thiên Huế.

[7]. Nguyễn Thị Lan, Trịnh Thu Nga (2010). Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2000-2009 – Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Viện Khoa học Lao động xã hội, số 28.

[8]. Lê Phượng (1998). Cảm nhận về sự chuyển đổi cơ cấu lao động nghệ nghiệp của hộ gia đình nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng qua một số công trình nghiên cứu đã được công bố, Xã hội học, số 2.

[9]. Vũ Hào Quang, Trương Ngọc Thắng, Vũ Thùy Dương (2013). Biến đổi xã hội nông thôn trong quá trình dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất và đô thị hóa, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

[10]. Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền (2013). Phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, số 3 (29), tr.1-9

Tài liệu internet

[11]. Cổng thông tin UBND huyện Quảng Điền. Thông tin huyện Quảng Điền-Tỉnh Thừa Thiên Huế, http://quangdien.thuathienhue.gov.vn/?gd=1&cn=82&cd=8

[12]. Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế. Thông tin về xã Quảng Phú-Huyện Quảng Điền-Tỉnh Thừa Thiên Huế, http://www3.thuathienhue.gov.vn/ GeographyBook/?sel=3&id=935

[13]. Huy Thông (2016). Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam còn thấp, http://mtnt.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1098/36380/hieu-qua-su-dung-dat-nong-nghiep-tai-viet-nam-con-thap

---

(*) ThS. Lê Duy Mai Phương, giảng viên khoa XHH, ĐHKH, Đại học Huế

---

Ảnh bìa: Tuấn Long