Lễ kỉ niệm 10 năm thành lập khoa Xã hội học (6/3/2006 - 6/3/2016)

Khoa Xã hội học

Chi bộ khoa XHH

Tác giả: Khoa Xã hội học

01 Tháng Một, 2018

Lễ kỉ niệm 10 năm thành lập khoa Xã hội học (6/3/2006 - 6/3/2016)

Vào ngày 4-3-2016, tại khách sạn Gold, 28 Bà Triệu, thành phố Huế, Khoa Xã hội học đã long trọng tổ chức lễ kỉ niệm 10 năm thành lập Khoa ( 6-3-2006 - 6-3-2016). Đến tham dự buổi lễ có PGS. TS Hoàng Văn Hiển - Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học, các lãnh đạo, trưởng phòng, trưởng khoa của các phòng, ban, khoa trực thuộc trường Đại học Khoa học, cùng toàn thể giáo viên, sinh viên, cựu sinh viên Xã hội học các khóa. 

Sau 10 năm thành lập, nhìn lại chặng đường đã qua Khoa XHH đã lớn mạnh không ngừng và đạt được các thành tựu đáng kể:

1.  Xây dựng, phát triển nguồn nhân lực cà cơ cấu tổ chức

Buổi đầu thành lập (2006) chỉ có 06 cán bộ được thuyên chuyển về từ các đơn vị thuộc trường Đại học Khoa học, trong đó có 01 TS, 02 ThS chuyên ngành XHH (thầy Bình, thầy Hới, cô Lan) và 03 cán bộ trẻ là sinh viên xuất sắc từ ngành Văn học, Sử được giữ lại và gửi đi đào tạo XHH văn bằng 2 tại ĐH KHXH&NV Hà Nội (cô Bình, cô Oanh, cô Đào).

Cán bộ khoa xã hội học, Đại học Khoa học Huế năm 2012

Đến nay – sau 10 năm Khoa đã có một đội ngũ cán bộ gồm 21 người. Trong đó Thầy Hới đã về hưu, và 06 CB thuyên chuyển công tác khác: cô Đinh Thị Kiều Oanh, thầy Nguyễn Đức Khoa, cô Nguyễn Cẩm Bình, cô Nguyễn Thị Mỹ Vân (B), cô Phan Nữ Ngọc Lan và thầy Nguyễn Tuấn Anh.

Hiện tại còn lại 14 cán bộ, giảng viên của Khoa, trong đó có 02 PGS, 04 Tiến sĩ, 07 thạc sĩ, 3 cử nhân và 01 cán bộ đang học Cao học tại Ba Lan. Đội ngũ của Khoa được chia làm 3 thế hệ, bình quân tuổi đời là 34. Tuy chưa phải “quá lớn”, nhưng đa số thầy cô đã có bề dày kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu và quan hệ tốt với các đối tác, các chương trình, dự án phát triển quốc gia, quốc tế và khu vực.

Cán bộ khoa xã hội học, Đại học Khoa học Huế năm 2016

Trong lộ trình phát triển 2010 - 2016 và tầm nhìn đến 2020, đội ngũ cán bộ giáo viên có khoảng 18-20 người, phấn đấu có 04 PGS, 6-8 tiến sĩ, 95% cán bộ làm NCS và Cao học. Tăng cường hợp tác với hai đầu đất nước và quốc tế để gửi cán bội đi đào tạo, đồng thời mời gọi cán bộ học tập, nghiên cứu từ nước ngoài về Khoa, hướng đến tiên tiến và Quốc tế hóa chương trình đào tạo của nhân và SĐH.

Hiện nay, nhiệm kỳ 2014-2019 Khoa đã cơ bản hoàn thành cơ cấu tổ chức gồm: Hội đồng Khoa học và Đào tạo (5 thành viên). Hội đồng Thi đua, khen thưởng, kỷ luật (7 thành viên); Ban chủ nhiệm Khoa gồm: PGS.TS Trần Xuân Bình - Trưởng Khoa phụ trách chung chuyên môn, tổ chức, đào tạo, nghiên cứu khoa học và đối ngoại; TS Lê Đăng Bảo Châu - Phó trưởng Khoa phụ trách công tác cơ sở vật chất, quản lý đào tạo, đoàn thể, thi đua và các công tác khác.

Các tổ Bộ môn gồm:1) Bộ môn Qui hoạch và Quản lý xã hội, do TS Lê Đăng Bảo Châu kiêm trưởng Bộ môn; 2) Bộ môn Giới - Gia đình và Dân số, do PGS.TS Lê Thị Kim Lan kiêm trưởng Bộ môn; 3) Bộ môn Môi trường và Phát triển cộng đồng, do TS Nguyễn Thị Mỹ Vân làm trưởng Bộ môn. Các trợ lý gồm: 1) Chuyên trách Giáo vụ - Văn phòng; 2) Tổ chức - Công tác Sinh viên - Đoàn thể; và 3) Nghiên cứu khoa học.

2.     Đào tạo và mở rộng hợp tác đào tạo

Nhiệm vụ trọng tâm của Khoa là đào tạo sinh viên chuyên ngành, đến nay đã và đang đào tạo 10 khóa, với gần 520 sinh viên (SV). Khóa đầu tiên K30 (2006-2010) 67, K31-57, K32-63, K33-53, K34-54, K35-33 đã ra trường. Còn lại 04 khóa: K36-16, K37-70, K38-64 và K39-41 SV.

Kết quả khảo sát bước đầu cho thấy, sinh viên tốt nghiệp loại: Giỏi 11.9%; Khá 82.0%; Trung bình 6%. Số sinh viên đã ra trường có việc làm 56.71%. Trong đó, làm tư nhân 65.8%; Nhà nước 34.2%; Làm đúng ngành đào tạo 57.9%; Làm trái ngành 42.1%. Phân bố ở các tỉnh/ thành phố: Huế 28%; Hà Nội 15%; Nghệ An 12%; Sài Gòn 7%; Thanh Hóa 7%; Khác 31%. Số sinh viên đang tìm việc làm 20.82%. 15 người đã, đang học cao học và 01 đang làm NCS trong và ngoài nước.

Trong tiến trình đổi mới giáo dục đào tạo của Nhà trường từ niên chế chuyển sang tín chỉ, bắt đầu từ K32 (2008-2012) và các khóa tiếp đó. Đây cũng là một thách thức lớn cho các ngành vừa mới ra đời như Khoa XHH, đồng thời cũng là cơ hội để qua đó có thể né tránh được những tồn tại, in đậm của cơ chế - niên chế quá khứ.

3.      Hợp tác phát triển và nghiên cứu khoa học

Hầu hết cán bộ của Khoa được đào tạo chính qui từ hai đầu đất nước và từ nước ngoài về, do đó có những quan hệ tốt với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời đang mở ra nhiều hướng hợp tác với các đối tác Quốc tế như Ðại học Dalhousie (Canada); Ðại học Visayas (Philippines); Ðại học Toulouse 1 và 2 (Pháp); Ðại học Queensland (Australia); Đại học Chiêngmai (Thái Lan); Các quĩ ICCO (Hà Lan), Rockerfeoler (Hoa Kỳ), ADB, NAV và các đối tác mới ASIAN… Các đối tác này đã, đang và sẽ thực sự là ngoại lực giúp Khoa phát triển nhanh chóng.

Hiện tại Khoa đã và đang xây dựng các đề tài, dự án hợp tác nghiên cứu, đào tạo, trao đổi giáo viên, sinh viên với các cở sở đào tạo trong và ngoài nước. Phối hợp với CSSH mở ra hướng hợp tác với Đại học Jame Madison Hoa kỳ về trao đổi giáo viên, sinh viên, đào tạo và NCKH – bắt đầu từ 2012. Xác lập và mở rộng quan hệ hợp tác Quốc tế và qua đó quốc tế hoá dần hoạt động giảng dạy, NCKH, đào tạo nhân lực và xây dựng các điểm học tập (thực hành, thực tập, kỹ năng tác nghiệp cho sinh viên). 

Các thành quả về hợp tác NCKH với các đối tác nước ngoài được đánh giá cao, đó là các dự án nghiên cứu mà cán bộ Khoa đã chủ trì và tham gia như: 1)Dự án: “An toàn di cư lao động ở Thừa Thiên Huế” do NAV tài trợ, TS Trần Xuân Bình chủ trì (2008). 2)Dự án: “Lao động di cư ở Miền Trung Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế”, Trường ĐHKH Huế tổ chức nghiên cứu, tài trợ của quỹ Rosa-Luxemburg-Stiftung, TS Lê Thị Kim Lan điều phối (2009). 3)Dự án nghiên cứu: “Đánh giá hiện trạng, nhu cầu và khả năng tiếp cận nước sạch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”, do ADB tài trợ, TS Trần Xuân Bình chủ trì (2009)...

Hoặc các đề tài cấp cơ sở - ĐHH đã nghiệm thu được đánh gía tốt, như: 1)“Phụ nữ di cư lao động Tỉnh Thừa Thiên Huế và vấn đề bảo trợ xã hội cho người di cư lao đông nghèo ở Việt nam” của ThS Lê Đăng Bảo Châu (2010). 2)“Hệ giá trị của cán bộ trẻ trường Đại học Khoa học Huế hiện nay” của Thầy Nguyễn Tuấn Anh (2010); 3)“Việc thực hiện mô hình đào tạo tín chỉ tại trường ĐHKH Huế- những thách thức và giải pháp”, Cô Nguyễn Thị Anh Đào và Võ Nữ Hải Yến. 4)“Thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp nhóm ngành KHXH-NV ở trường ĐHKH Huế hiện nay”, Cô Nguyễn Tư Hậu...

Hoặc các hội nghị khoa học cấp Khoa đã thực hiện: 1) Hội nghi KH cấp Khoa lần 1:“Bàn về các lý thuyết XHH trong phát triển và vận dụng các lý thuyết đối với sự phát triển của các tỉnh Miền Trung - Tây Nguyên giai đoạn hiện nay”, tháng 5/ 2009. 2) Hội nghị KH cấp Khoa lần 2: “Nghèo và chiến lược giảm nghèo lần 1- Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam”- tháng 1/ 2010. 3) Hội nghị KH cấp Liên Khoa lần 3:“Nghèo và chiến lược giảm nghèo lần 2- Thực trạng nghèo đói và chiến lược giảm nghèo của người dân miền Trung”- tháng 5/ 2010

4.       Định hướng chiến lược phát triển của Khoa sau 10 năm 

1). Hoàn thiện chương trình đào tạo cử nhân XHH hệ tín chỉ (theo khối ngành, nhóm ngành), biên soạn và xuất bản bài giảng, giáo trình, tài liệu tham khảo.

2). Giảng dạy Xã hội học đại cương và chuyên ngành cho các hệ thuộc Ðại học Huế. Mở hệ đào tạo văn bằng 2, liên thông, liên kết và mở hệ vừa làm vừa học. Hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu và phát triển một số ngành gần;

3). Ðẩy mạnh đào tạo nhân lực, phát triển đội ngũ và hoàn thiên các Bộ môn chuyên sâu. Xây dựng chương trình đào tạo, đội ngũ khoa học và hệ thống tư liệu để mở mã ngành cử nhân Quản lý xã hội. Liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học và thực hiện các dự án phát triển với các đối tác trong nước và Quốc tế.;

4). Liên kết, hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước hình thành mạng lưới đào tạo, nghiên cứu, trao đổi thông tin tư liệu, các hoạt động phát triển. Thực hiện các dự án nghiên cứu, tư vấn, phản biện và chuyển giao trên địa bàn các tỉnh Miền Trung - Tây nguyên;

5). Hợp tác Quốc tế về nghiên cứu khoa học, đổi mới phương pháp giảng dạy, hội thảo khoa học, thông tin tư liệu – giáo trình, trao đổi thực tập sinh, đào tạo nhân lực và phát huy các nguồn lực. Mở hệ đào tạo sau Đại học;

6). Xây dựng cơ sở vật chất, thông tin tư liệu, Web, các phương tiện giảng dạy và tác nghiệp hiện đại phục vụ tốt công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học đáp ứng từng bước nhu cầu phát triển ngành.

---

Bài viết mang nhiều dữ liệu của năm 2016. Đến nay, một số thông tin đã được thay đổi. Các bạn vui lòng truy cập bài viết tại đây để cập nhật thêm thông tin mới. Xin cám ơn!